Yến Từ Quy – Chương 451
Yến Từ Quy
Buổi sáng ba ngày sau.
Các văn võ đại thần đã có mặt trong Kim Loan điện bàn bạc triều chính. Vì là đại triều hội, nhiều người phải đứng ở ngoài hành lang. Từ Giản đang nghe Bình Thân Vương bàn bạc, bỗng thấy sau lưng vang lên tiếng xôn xao, bất giác quay đầu nhìn lại. Cả đại điện đều hướng ra ngoài.
Những quan lại đứng phía trước không hiểu có chuyện gì, còn phía sau lại rõ mồn một, có một thị vệ vội vã băng qua quảng trường lớn, chạy ba bước, một bước lên thềm. Vừa thở dốc vừa thưa: “Khởi bẩm Thánh thượng, phía Tây nổi lửa, Tây Lương lại tấn công Dụ Môn”.
Cả triều đình lập tức xôn xao. Từ Giản nhìn sang Lâm Dư, thấy cha vợ mình cũng tỏ ra nghiêm trọng. So với những người không hay biết, cả hai từ trước đã dự đoán được Tây Lương sẽ tấn công. Là vì Tô Nghị, và Cổ Nguyệt. Mật thám báo rằng, một khi Tô Nghị thất bại, phe chủ chiến của Cổ Nguyệt sẽ chiếm ưu thế, liên thủ với Tây Lương. Nhưng Từ Giản cũng biết, việc Tô Nghị thất thế vốn đã được định trước. Trước khi Lý Độ g.i.ế.c Lý Tuấn, hắn đã gửi thư cho Tô Nghị, có lẽ chính là vì chuyện này. Dù Tô Nghị chọn bắt tay với Lý Độ, thì thất bại của hắn chỉ là một màn kịch.
Giữa lúc hỗn loạn, Thánh thượng cất cao giọng hỏi: “Cổ Nguyệt thì sao? Người Cổ Nguyệt có phản ứng thế nào?”.
Thị vệ không trả lời được. Bắn lửa là báo hiệu khẩn cấp, chỉ truyền tin chiến sự, còn tình hình cụ thể chỉ có thể đợi báo cáo khẩn từ biên quan. Những ai có mặt đều hiểu rõ, chiến cục ở Dụ Môn lần này không hề lạc quan. Vốn là nơi trọng yếu, Dụ Môn luôn là điểm nóng tranh giành của các nước. Những trận chiến lớn nhỏ ở đây từng xảy ra nhiều lần, không kể xiết. Đại Thuận đặt quân ở Dụ Môn, canh phòng Tây Lương nghiêm ngặt, sau trận chiến đẫm m.á.u năm Vĩnh Gia thứ tám, hai quân những năm gần đây chỉ còn là những va chạm nhỏ. Mà va chạm nhỏ thì không đến mức phải đốt lửa truyền tin. Trận chiến hôm nay, lại phải dùng đến lửa truyền về kinh. Điều này chứng tỏ đối phương đến với thế lực hùng hậu, quân Dụ Môn cho rằng khó mà giữ nổi, đành phải báo gấp về kinh cầu viện. Trong giây lát, các triều thần đều lộ vẻ nặng nề. Vốn đã có mối lo về Lý Độ, nay lại thêm ngoại địch tấn công, thật khó ai giữ được bình thản.
Một người lên tiếng: “Sao Thánh thượng lại hỏi đến Cổ Nguyệt?”.
“Phải, dù Cổ Nguyệt liên minh với ta, nhưng chỉ là tiểu quốc ngoài ải, có thể chặn Tây Lương được bao lâu? Mong cản quân địch lâu dài cũng khó lắm rồi”.
Thánh thượng day day thái dương, ban đầu không muốn gây hoang mang, nhưng lúc này cũng không cần giữ kín nữa.
“Mấy ngày trước nhận tin từ mật thám, phe chủ chiến của Cổ Nguyệt đang dần chiếm ưu thế, có khả năng họ sẽ liên thủ cùng Tây Lương”.
Lời vừa dứt, tiếng thở dài, tiếng rít khẽ vang lên khắp nơi.
“Người Cổ Nguyệt lại đổi hướng? Có thật vậy không?”.
“Thần đã nhiều lần nói, không thể tin Cổ Nguyệt. Không cùng tộc, lòng dạ tất khác”.
“Ta đã dành cho Cổ Nguyệt bao nhiêu ưu ái? Nay lại hóa thành hổ dữ quay lại c.ắ.n chủ sao?”.
“Chỉ Tây Lương thôi còn chống đỡ được, giờ thêm quân Cổ Nguyệt, Dụ Môn e là khó giữ…”
“Năm Vĩnh Gia thứ tám, chúng ta hy sinh biết bao nhiêu để đẩy lui Tây Lương, nay họ trở lại, mà phủ Phụ Quốc công đã không còn người xưa”.
“Không thể để mất ải Dụ Môn”.
Ngồi trên ngai rồng, Thánh thượng nhìn từng khuôn mặt phẫn uất, kích động phía dưới, cố giữ nhịp thở đều. Đây không phải lúc để tranh cãi chuyện liên minh với Cổ Nguyệt là đúng hay sai. Tin chi tiết về tình hình chiến sự còn đang trên đường tới, nhưng đã đến mức ải Dụ Môn phải phóng lửa cầu viện, nên quân tiếp viện từ kinh thành là cần kíp. Vừa định lên tiếng, Thánh thượng đã thấy Lý Thiệu quay lại nói gì đó với Từ Giản, khiến Từ Giản hơi lúng túng. Thánh thượng gõ tay vào ngai vàng, hai tiếng ho khẽ vang lên, lập tức các quan ngừng tranh cãi, lời của Lý Thiệu lại truyền đến tai mọi người trong không khí im ắng ấy.
“Thấy Lý Độ chạy trốn, không trông cậy được, Tô Nghị bèn quay sang Tây Lương? Hắn quả là cây lau theo chiều gió”.
Từ Giản cúi đầu, thầm nghĩ, thật là trùng hợp. Vừa rồi Lý Thiệu hỏi hắn có biết tình hình mật thám báo lại không, Từ Giản đáp rằng mình đã biết, thậm chí còn biết nhiều hơn lời Thánh thượng nói. Thánh thượng chỉ nói qua loa, tránh nói rõ mối liên hệ giữa Lý Độ, Tô Nghị và Cổ Nguyệt, nhất là trong đại triều hội nhiều người, nhiều tai mắt. Không ngờ, khi điện im bặt, Lý Thiệu lại buông ra câu nói kia. May là Lý Thiệu chỉ xem Tô Nghị là kẻ “hai lòng”, không phải đồng minh của Lý Độ.
Một vị đại thần không hiểu, cất tiếng hỏi: “Sao lại liên quan đến Lý Độ?”.
Lý Thiệu định trả lời, nhưng thấy Từ Giản nháy mắt liên tục, lại nhìn phụ hoàng với ánh mắt sâu thẳm, đành nuốt lời xuống.
Thánh thượng quét mắt qua hàng triều thần: “Xuất binh cứu viện ải Dụ Môn…”
Người chưa dứt lời, một vị bước lên, quỳ một gối, chắp tay: “Thần xin xuất chinh”.
Từ Giản nhìn theo tiếng, người xin đi chính là Định Bắc Hầu. Định Bắc Hầu đã ngoài năm mươi, từng chinh chiến từ khi mười sáu tuổi, cả đời chinh chiến, lập chiến công hiển hách giữ gìn biên cương phía Bắc. Mười năm trước kế thừa tước vị cha để lại, sau đó ít khi xuất quân, nhưng Từ Giản từng nghe tổ phụ nhiều lần khen ngợi Định Bắc Hầu là người giỏi dùng binh. Cũng bởi điều này, hắn biết Định Bắc Hầu có kết cục không lành. Trong quá khứ hắn cùng tiểu Quận chúa trải qua, Định Bắc Hầu không toàn mạng. Hai viên gạch vàng được tìm thấy trong phủ An Dật Bá đã khiến Định Bắc Hầu bị liên lụy, Hầu phủ bị tịch thu tài sản và tru di, phủ Thành Ý Bá liền kề cũng không thoát khỏi liên đới. Cuộc chiến quyền lực, không chú trọng tội danh, chỉ chú trọng kết cục. An Dật Bá tự sát trong ngục, phủ Định Bắc Hầu bị diệt, phủ Thành Ý Bá nhờ được “khai ân” nên còn sống sót, nhưng không còn gì ngoài cái mạng.
Hiện tại, với việc Lý Độ thất thế, tất cả đã rẽ sang ngã khác. Định Bắc Hầu khẩn thiết muốn cầm quân cứu viện Dụ Môn. Thánh thượng chuẩn tấu, hỏi han các quan về việc điều động lương thảo, binh lực ở các vùng, các quan có trách nhiệm đều lên tiếng, từng việc một được sắp xếp. Chuyện “Lý Độ và Tô Nghị” vì thế mà được gác lại.
Tan triều, mỗi nơi đều bắt đầu chuẩn bị cấp tốc. Từ Giản theo Lý Thiệu cùng đến Ngự thư phòng.
Thánh thượng uống một ngụm trà, vừa thấm giọng xong bèn hỏi Lý Thiệu: “Sao tự nhiên lại nhắc tới Lý Độ?”.
Lý Thiệu giận dữ đáp: “Ở ngõ Trần Mễ có cả thẻ vàng của sứ giả Cổ Nguyệt, Lý Độ từ lâu đã câu kết với người Cổ Nguyệt. Không biết Lý Độ đã trao cho Tô Nghị bao nhiêu lợi ích để đổi lấy cái gọi là liên minh, giờ Lý Độ thất thế, Tô Nghị lập tức quay về với Tây Lương. Phụ hoàng, có khi nào Tô Nghị là kẻ hai lòng ngay từ đầu không?”.
Thánh thượng không đáp ngay. Ông biết Lý Thiệu cũng không sai. Ông và Từ Giản đã bàn trước, thay vì nói Tô Nghị thất thế dưới tay phe chủ chiến, thì có lẽ hắn đã muốn gây chiến từ lâu. Điều mà Lý Thiệu chưa nghĩ đến, là Lý Độ và Tô Nghị không hề cắt đứt đồng minh, mà có lẽ còn trở nên khắng khít hơn. Nghĩ vậy, Thánh thượng kể hết ngọn nguồn cho Lý Thiệu.
“Ý phụ hoàng là, Lý Độ dẫn đường cho quân Cổ Nguyệt và Tây Lương tấn công, mong đục nước béo cò? Hắn to gan lớn mật đến mức nào vậy. Hắn không nghĩ đến nhi tử mình vẫn nằm trong tay ta sao? Hắn thật sự không sợ chúng ta sẽ g.i.ế.c Lý Vanh sao?”.
Theo ý Lý Thiệu, chỉ cần g.i.ế.c Lý Vanh là xong. “Dù có ai phản đối, người nào lắm lời thì cứ c.h.é.m đi là xong”.
Từ Giản vội nhắc: “Điện hạ đừng nóng giận, lúc này quan trọng là chuyện của Lý Độ và Tô Nghị”.
Lý Thiệu nghe nhắc đến ngõ Trần Mễ thì càng khó mà bình tĩnh.
“Thiệu nhi”. Thánh thượng trầm giọng hỏi: “Chiến sự ở Dụ Môn đã bùng nổ, con muốn tiếp tục ở lại Hình bộ quan sát hay sang Binh bộ trước?”.
Lý Thiệu không ngần ngại đáp ngay: “Nhi thần muốn sang Binh bộ”.
Đây cũng là ý Thánh thượng. Lãnh thổ Đại Thuận rộng lớn, giáp với nhiều dân tộc ngoại bang, tránh không khỏi các cuộc xung đột. Việc binh đao không thể chỉ ngồi trên giấy mà nói, cho dù có ở lại kinh thành thì cũng phải hiểu biết rành mạch, nói phải có bằng chứng rõ ràng. Tới Binh bộ, tham gia vào việc hậu cần và điều phối trong chiến sự sẽ là cơ hội rèn luyện tốt cho Lý Thiệu.
“Vậy thì sang đó ngay đi”. Thánh thượng ngẫm nghĩ rồi dặn dò: “Vào lúc cần thiết này, con hãy lắng nghe ý kiến của Từ Giản và Tam Cố, học hỏi từ họ”.
Thánh thượng sau khi căn dặn xong bèn để Lý Thiệu lui ra, giữ lại Từ Giản để nói thêm vài lời. Đợi cho Lý Thiệu rời đi cùng với Tào công công, trong phòng chỉ còn lại Thánh thượng và Từ Giản.
“Khanh vẫn còn nghĩ về chuyện Cổ Nguyệt sao?”. Thánh thượng hỏi.
“Thần vừa nghĩ về chuyện đó, vừa nghĩ thêm về Điện hạ”. Từ Giản đáp.
Thánh thượng trầm tư một chút rồi nói: “Khanh vẫn lo lắng cho Thiệu nhi?”.
Từ Giản chọn lời nói: “Điện hạ quả là nhạy bén, nhưng đôi khi lại quá nóng nảy”.
Nhắc đến Lý Thiệu, thần sắc của Thánh thượng dịu xuống đôi phần, không còn vẻ nghiêm trọng như khi bàn chuyện chiến sự nữa.
“Người nào cũng có ưu điểm và khuyết điểm”. Thánh thượng mỉm cười: “Trẫm có, Thiệu nhi cũng vậy. Dạo gần đây, trẫm mừng vì dù chưa tìm ra tung tích Lý Độ, nhưng trẫm đã loại được một kẻ mưu đồ bất chính. Nếu không, với cách hắn gieo rắc nịnh nọt, Thiệu nhi còn nghe lời hắn nhiều, e sẽ càng sa lầy. May thay mọi chuyện đã qua, hắn không thể gây ảnh hưởng cho Thiệu nhi nữa”.
Từ Giản cúi đầu. Thánh thượng nhận thấy, liếc nhìn về phía rèm cửa, ra hiệu cho Tào công công đứng bên ngoài giữ khoảng cách.
“Chỉ có trẫm và khanh ở đây thôi”. Thánh thượng tựa lưng vào ghế, cố gắng tạo bầu không khí thoải mái: “Có điều gì cứ nói thẳng, trẫm không phải là người hẹp hòi”.
Từ Giản có hơi do dự, dù được Thánh thượng khuyến khích, nhưng giữa vua tôi, lời nói thẳng thường khó tránh phải dè chừng.
Thấy Từ Giản chưa mở lời, Thánh thượng đã khơi chuyện: “Cách đây hai năm, khanh đã từng nói với trẫm rằng Thiệu nhi có tính cách nhạy bén, nhưng chuyện ở ải Dụ Môn năm xưa có thể làm rạn nứt quan hệ giữa hai người. Khanh ở bên cạnh Thiệu nhi khiến nó đôi khi không thoải mái. Hai năm qua, tuy không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhưng trẫm thấy mọi chuyện đang tiến triển tốt hơn, nhất là từ sau khi phế Thái tử. Thiệu nhi ngày càng tin tưởng khanh, nhất là qua vụ án ở chùa Định Quốc, nó phối hợp rất tốt”.
Từ Giản gật đầu, lòng không khỏi cảm thán. Hắn và Lâm Vân Yên đều hiểu, dù không có Lý Độ đứng sau lập mưu, Lý Thiệu cũng khó có thể gánh vác đại nghiệp. Nếu Lý Thiệu nối ngôi, phủ Phụ Quốc công hay phủ Thành Ý Bá e rằng khó mà yên ổn. Đây là điều Từ Giản không thể chấp nhận, nhưng hắn cũng không thể trực tiếp đối đầu với Lý Thiệu trong hoàn cảnh hiện tại. Như cha vợ từng dặn, một khi chĩa mũi nhọn vào Lý Thiệu, bóng đen sẽ không còn che phủ nữa và họ sẽ bị Thánh thượng kiềm chế. Để thoát khỏi thế bí, phải có binh quyền trong tay. Dụ Môn là cơ hội của Từ Giản, và cũng là lý do hôm nay hắn cần nói chuyện thẳng thắn với Thánh thượng tại Ngự thư phòng.
Sau một hồi suy nghĩ kỹ lưỡng, Từ Giản cúi mình, chắp tay thưa: “Thần xin đi Dụ Môn”.
Lời hắn vừa dứt, ánh mắt Thánh thượng lập tức sắc lại. Tào công công ngoài rèm cũng thoáng ngỡ ngàng, tự hỏi mình có nghe nhầm không.
“Đi Dụ Môn sao?”. Thánh thượng lộ vẻ không đồng ý: “Trẫm không phải muốn làm nhụt chí khanh, nhưng khanh cũng biết rõ tình trạng sức khỏe của mình. Khanh có thể cưỡi ngựa, nhưng liệu có thể ra trận không? Khanh biết chiến trường ra sao rồi. Với tình trạng hiện tại, khanh dám chắc mình có thể sống sót trở về không?”.
Ngừng lại một chút, Thánh thượng nói tiếp: “Trẫm từng bảo với khanh, muốn lập công đâu nhất thiết phải ra chiến trường, triều đình cũng là nơi lập công. Trẫm hiểu khanh muốn đền đáp sự kỳ vọng của tổ phụ, nhưng nếu chỉ vì không muốn tiếp tục dẫn dắt Thiệu nhi mà khanh đề xuất đi Dụ Môn, trẫm thấy thật không phải”.
Từ Giản lặng lẽ nghe, lòng thầm thở dài. Với tư cách vua cũng như người bề trên, Thánh thượng đã thật lòng đối xử tốt với hắn. Nhưng hắn cũng có con đường của riêng mình, con đường hắn đi nhất định phải kiên định. Hắn không thể để Đại Thuận trệch hướng vì Lý Thiệu.
“Thánh thượng”. Từ Giản ngẩng đầu, nhìn thẳng vào ánh mắt của Thánh thượng, trầm giọng thưa: “Điện hạ có khúc mắc trong lòng và thần cũng vậy”.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại hatdaukhaai.com - *
"Khúc mắt của thần không phải là với Điện hạ, mà là với Dụ Môn, với chính mình, người từng mơ làm tướng quân nơi chiến trường nhưng lại chẳng thể lên ngựa. Từ nhỏ thần đã được dạy làm võ tướng, lần đầu ra trận cũng để đ.á.n.h Tây Lương tại Dụ Môn. Thế nhưng lần cuối cùng, thần lại phải nằm trên cáng trở về. Lần này, thần muốn cưỡi ngựa đi, cưỡi ngựa về. Làm được vậy, thần mới buông bỏ được. Bằng không, đêm nào thần cũng mơ thấy Dụ Môn”.
Ngự thư phòng im lặng hẳn. Thánh thượng im lặng rất lâu, mắt nặng nề trầm xuống. Nếu phân tích lợi hại rõ ràng, thực ra ngài có thể dùng một chuỗi lý lẽ để khuyên ngăn Từ Giản. Hoặc đơn giản hơn, chỉ cần một câu “không cho phép” là đủ, quân lệnh không thể trái. Nhưng lời muốn nói lại cứ nghẹn lại nơi cổ họng. Bởi vì Từ Giản đã nói, đêm nào cũng mơ thấy Dụ Môn. Thánh thượng thoáng thấy trong Từ Giản bóng dáng của chính mình khi theo đuổi chân tướng vụ chùa Định Quốc suốt mười mấy năm qua. Nhiều người đã khuyên nhủ ngài, phân tích cặn kẽ sự khó khăn, thiếu thốn manh mối, nhưng ngài vẫn không thể buông bỏ. Năm ấy, ngài tranh đoạt ngôi vị, vì muốn trả lại công lý cho chùa Định Quốc. Chỉ khi làm hoàng đế, ngài mới đủ quyền lực để truy tìm sự thật. Và dù thời gian trôi qua, câu trả lời ngày càng khó kiếm tìm, thậm chí ngài cũng từng nản lòng, từng tự hỏi liệu có tìm được đáp án hay không. Nhưng ngay cả lúc ấy, trong giấc mơ, ngài vẫn thấy mình đứng ở trấn Bảo Bình, nhìn lên ngọn núi đen ngòm dưới bầu trời đêm, phía xa xa là ngọn lửa duy nhất bừng cháy. Đêm ấy, hình ảnh ấy đã khắc sâu vào tâm khảm ngài. Chính vì hiểu rõ cảm giác này, Thánh thượng thực sự "cảm thông sâu sắc" khi nghe Từ Giản nói. Thánh thượng nhớ lại, lão Quốc công sinh thời nhiều lần khen ngợi Từ Giản, nói rằng đây là người có thể gánh vác biên ải cho Đại Thuận. Những lời khen con cháu như thế giữa triều đình vốn rất hiếm, nhưng lão Quốc công vốn thẳng thắn, mà bản thân ông cũng nhìn Từ Giản lớn lên. Lần đầu tiên Dụ Môn đụng độ Tây Lương, Từ Giản khi ấy đã lập được chiến công, chứng minh sự lựa chọn của ông nội. Lúc đại quân trở về, Từ Giản vẫn ở lại canh giữ Dụ Môn, tiếp nối nhiệm vụ của ông nội. Đến năm Vĩnh Gia thứ mười, sau khi lo tang lễ, Từ Giản lại khẩn cầu trở về Dụ Môn, bởi nơi ấy vẫn tiếp tục xảy ra những va chạm liên miên. Ký ức về lần đó hiện về trong tâm trí ngài. Trên Kim Loan điện, Từ Giản khi ấy đã đội khăn tang, dõng dạc trình bày: “Việc binh đao, không thể chùn bước”. Lời nói của hắn khiến các đại thần cảm động, đồng loạt đứng ra xin Thánh thượng cho hắn trở lại biên ải. Tính cách ấy, lòng kiên định ấy, nếu bảo rằng Từ Giản không lưu luyến Dụ Môn, chính ngài cũng không thể tin. Phải, từ khi còn nhỏ Từ Giản đã rèn luyện võ nghệ, nuôi chí bảo vệ biên cương, làm sao buông bỏ được chứ? Chấn thương từng chặt đứt hy vọng ấy, làm nản lòng hắn, nhưng giờ đây khi vết thương đã dần hồi phục, Dụ Môn lại đang trong chiến sự, việc hắn muốn ra trận là điều dễ hiểu.
Bất kỳ lời lẽ khuyên ngăn nào cũng không thể lay chuyển được hắn. Đắn đo hồi lâu, Thánh thượng mới hỏi: "Đã suy nghĩ kỹ rồi sao?".
Từ Giản nhìn ngài, ánh mắt kiên định: “Thần đã suy nghĩ kỹ”.
“Nếu khanh khăng khăng như vậy”. Thánh thượng buông tiếng thở dài: “Trẫm sẽ không cản khanh. Nhưng khanh phải thuyết phục Ninh An và Hoàng Thái hậu trước đã”.
Từ Giản cúi đầu, mắt ánh lên sự nhẹ nhõm: “Quận chúa hiểu rõ lòng thần”.
Thấy thế, Thánh thượng phần nào cũng cảm thấy nhẹ lòng. Ngài lại nhớ lời của tiên đế khi xưa.
“Mỗi người có số mệnh của mình”.
“Làm phụ thân không thể khiến tất cả nhi tử nghe lời, làm hoàng đế lại càng không thể mong các triều thần cùng một tiếng nói. Càng muốn làm bạo quân, thần tử càng sẽ có thêm những tiếng nói khác, dù là sau lưng”.
“Làm vua, làm thần, làm người đều như thế cả”.
“Chỉ cần mình hiểu rõ, chấp nhận kết quả”.
Bấy nhiêu năm đăng cơ, Thánh thượng càng lúc càng hiểu rõ lời dạy bảo của tiên đế. Bây giờ cũng vậy, một khi Từ Giản và Ninh An đã suy nghĩ thông suốt, thì người làm hoàng đế ngài cũng không cần cố chấp ngăn cản nữa. Trái lại, ngài nên vui mừng vì hai hậu bối có thể thấu hiểu và hòa thuận với nhau mới phải.
Thánh thượng nói: “Chủ soái là Định Bắc Hầu, khanh…”
Xét về tuổi tác và kinh nghiệm, để Từ Giản làm tiên phong cũng hợp lý, chỉ là vết thương ở chân vẫn luôn là trở ngại lớn không thể vượt qua. Nếu thật sự để Từ Giản dẫn quân phi ngựa nhanh đến tiếp viện cho Dụ Môn, Thánh thượng cũng không yên tâm. Ngài suy nghĩ một chút, rồi nói:
“Khanh làm phó tướng, sau khi đến Dụ Môn, việc điều binh bố trận thế nào, thì hãy nghe theo sự sắp xếp của Định Bắc Hầu”.
Sau đó, ngài lại cho gọi Định Bắc Hầu đến dặn dò mấy câu. Để Từ Giản giữ quân trấn thủ chiến tuyến, vừa có thể giúp hắn thể hiện hoài bão, phát huy năng lực, lại không nguy hiểm như việc xung phong ra trận. Định Bắc Hầu cũng không phải người không biết nặng nhẹ, ông biết nên bố trí quân thế nào là thích hợp nhất.
Từ Giản nói: “Thần sẽ nghe theo sự chỉ huy của đại soái, tuyệt đối không hành sự theo cảm tính”.
Thánh thượng gật đầu, rồi lại nói: “Trẫm tưởng khanh muốn truy xét Lý Độ hơn”.
Chính Từ Giản là người lần ra được đầu mối về Lý Độ. Bỏ dở nửa chừng không phải tính cách của Từ Giản.
“Muốn truy xét thì tất nhiên là muốn”. Từ Giản đáp: “Lần trước thần từng bàn với bệ hạ rồi, với mối giao tình giữa Lý Độ và Tô Nghị, Dụ Môn rất có thể chỉ là kế ‘minh tu sạn đạo’, còn chúng âm thầm ‘ám độ Trần Thương’*, trực tiếp nhắm vào kinh đô”.
* Thành ngữ “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” được sử dụng để chỉ những chiến lược đ.á.n.h lạc hướng đối phương, khiến họ tập trung vào một mục tiêu giả định, trong khi mục tiêu thực sự được tiến hành một cách kín đáo.
“Không phải thần tự đề cao mình, nhưng thần đã phá hỏng mưu sự của Lý Độ mấy lần rồi, hắn hận thần đến nghiến răng, nghiến lợi. Nếu thần ở lại kinh thành, tiếp tục truy tìm tung tích của hắn, e rằng hắn sẽ bày thêm nhiều kế để đ.á.n.h lạc hướng. Nhưng nếu thần đi xa đến Dụ Môn, có khi hắn lại không kiêng dè, để lộ sơ hở và bị bệ hạ nắm được. Vì vậy thần nghĩ, chiến sự ở Dụ Môn là chuyện lớn, nhưng cũng không thể lơ là phòng thủ kinh thành. Ngoài nha môn thủ bị, trung quân cũng nên được tăng cường cảnh giới”.
Thánh thượng gật đầu như có điều suy nghĩ: “Trẫm sẽ giao việc này cho An Dật Bá”.
Sáng nay ở Kim Loan điện, Thánh thượng đã nhìn ra, lão bá gia cũng không phải không có lòng muốn ra trận. Chỉ là Định Bắc Hầu chủ động xin làm chủ soái, còn An Dật Bá lại khăng khăng đòi làm phó tướng, mà hai người lại có quan hệ thông gia, giao binh quyền lớn như thế là không thích hợp. Cho nên cuối cùng, An Dật Bá cũng chỉ giúp mấy hậu bối trong nhà giành được cơ hội rèn luyện, còn bản thân thì không xuất chinh. Đã xác định là lão bá gia ở lại trấn giữ kinh thành, giao việc phòng bị kinh thành cho ông, Thánh thượng cũng hoàn toàn yên tâm.
Từ Giản lại thảo luận thêm mấy câu với Thánh thượng, rồi lui ra khỏi Ngự thư phòng. Đang tạm biệt Tào công công, Từ Giản vừa ngẩng đầu lên đã thấy nội thị từ Từ Ninh cung đi đến.
“Quốc công gia”. Ông tiến lên hành lễ: “Hoàng Thái hậu cho mời ngài qua bên đó”.
Tào công công nghe vậy thì bật cười: “Nương nương nghe tin nhanh thật đấy?”.
“Quận chúa vừa vào cung rồi”. Tào công công đáp: “Quận chúa nói, trong lòng Quốc công gia đang nghĩ gì, nàng rõ ràng như lòng bàn tay”.
Tào công công cười càng vui hơn.
Từ Ninh cung.
Lâm Vân Yên đã đến được một khắc rồi. Chiến sự nổ ra, Dụ Môn giao tranh, từ sáng sớm, cả kinh thành đã bàn tán xôn xao. Có người thì lo lắng bất an, sợ chiến hỏa ảnh hưởng đến cuộc sống, có người thì dửng dưng, dù sao cũng là dưới chân thiên tử, Dụ Môn cách đây xa ngàn dặm. Lâm Vân Yên vội vàng vào cung, nói với Hoàng Thái hậu chuyện Từ Giản có thể phải xuất chinh. Sắc mặt Hoàng Thái hậu lúc đó không hề dễ coi.
“Ta thấy con sốt ruột, còn tưởng con đến để xin ta khuyên can hắn, để Thánh thượng ngăn cản hắn”. Hoàng Thái hậu liếc mắt trách móc Lâm Vân Yên một cái: "Không ngờ con đến là để khuyên ta cho hắn đi”.
Lâm Vân Yên ngoan ngoãn mỉm cười.
“Đó là ra trận đấy”. Hoàng Thái hậu tức giận nói: "Không nói đâu xa, cứ nhìn Đức phi mà xem, từ tổ phụ, phụ thân, đến huynh đệ, cả nhà đều bỏ mạng dưới ải Dụ Môn. Con yên tâm được sao? Còn ta thì không yên tâm chút nào. Vân Yên à, những lời cao thượng khí khái ai mà không nói được? Ta còn giỏi nói hơn nữa là, nào là ‘trung nghĩa xưa nay khó vẹn toàn’, nào là ‘đều là nam nhi tốt của Đại Thuận’, nghe mà rơi nước mắt từ binh sĩ đến dân thường. Hôm nay mà có người khác đến cầu xin cho trượng phu mình ra trận, ta không chỉ không cản, mà còn khen thưởng, ban cho vàng bạc châu báu. Nhưng hôm nay người đó là con. Ta già rồi, chỉ mong con và phu quân có thể bình an, êm ấm bên nhau, chứ không phải ngày ngày nơm nớp lo lắng hắn ngoài chiến trường có bị thương, có mất mạng không. Nếu thật sự có chuyện gì, con buông bỏ được sao? Tái giá được sao? Hay là ôm bài vị sống cả đời? Ta chỉ sợ đến lúc nhắm mắt xuôi tay, thứ cuối cùng ban cho con lại là cái bảng trinh tiết, con hiểu không?”.
Lâm Vân Yên vẫn mỉm cười, nhưng viền mắt đã đỏ hoe, ánh mắt ngập nước.
“Người yêu thương con, điều đó con rõ hơn ai hết”. Lâm Vân Yên tựa vào Hoàng Thái hậu, nhẹ giọng nói: "Con cũng từng do dự, từ lúc Lý Độ đào tẩu, biết hắn có qua lại với Tô Nghị, con đã nghe Từ Giản phân tích khả năng biên cương khơi mào chiến sự. Cũng từ lúc ấy, con đã nghĩ, Từ Giản nhất định sẽ muốn ra trận. Về sau, tốt xấu thế nào, con cũng đã suy tính cả rồi”.
Nói đến đây, nàng dừng lại một chút, hạ giọng: “Người đã nói thật lòng với con, con cũng không vòng vo. Những lời như lý tưởng, chí hướng, con cũng có thể vừa khóc vừa kể lể suốt nửa ngày, nhưng lời thật lòng là: con muốn sống tiếp, con cần có chỗ dựa. Người từng nói, người đã già, sớm muộn cũng sẽ đi trước chúng con, người không muốn đến một ngày con bị dồn vào đường cùng, kêu trời không thấu, gọi đất không hay. Cho nên, con và Từ Giản đều cần thêm công huân, cần thêm vốn liếng”.
Sắc mặt Hoàng Thái hậu lập tức trắng bệch. Dĩ nhiên bà nhớ rõ mình từng nói những lời ấy trong hoàn cảnh nào. Giờ Vân Yên nhắc lại, ý đồ rõ ràng... nhằm thẳng vào Lý Thiệu.
Hoàng Thái hậu siết c.h.ặ.t t.a.y Lâm Vân Yên: “Ta tưởng mấy tháng nay, các con đã hòa hoãn hơn nhiều rồi”.
“Cũng chẳng biết khi nào lại tan vỡ nữa đâu…”, Lâm Vân Yên nói: "Cho nên, Từ Giản muốn ra trận cũng không phải là nhất quyết liều mạng với người Tây Lương. Chàng hiểu rõ tình trạng của mình, sẽ cố gắng ở lại trong ải điều động binh, không làm anh hùng rơm đâu”.
Hoàng Thái hậu lắc đầu: “Đao kiếm không có mắt, chiến sự khó đoán, đ.á.n.h trận nào có chuyện chu toàn?”.
“Con hiểu”. Lâm Vân Yên nói: "Nhưng vẫn phải liều một phen”.
Hoàng Thái hậu khe khẽ thở dài. Đến nước này, bà cũng không nói mấy lời kiểu “các con không nên chọc vào Lý Thiệu” nữa... trong mắt bà, chuyện xấu của Lý Thiệu cũng chẳng ít. Nếu Lý Thiệu không thay đổi chút nào, đến lúc quay lại chính trường, ai biết sẽ lại gây ra bao nhiêu rắc rối? Còn cả phía Đức Vinh nữa… Thời gian gần đây, Hoàng Thái hậu cũng đã triệu kiến Trưởng Công chúa Đức Vinh mấy lần. Ý của Đức Vinh giống như chẳng có gì bất mãn với Thánh thượng, càng không đến mức hồ đồ như Lý Độ, nhưng nàng rất ghét Lý Thiệu... chuyện này thì khỏi nghi ngờ. Chỉ tiếc là sau khi phế Thái tử, Thánh thượng vẫn giữ tâm tư muốn lập lại. Những rối ren trong đó, sẽ dẫn đến kết cục thế nào, Hoàng Thái hậu vô cùng lo lắng. Trong tình thế như vậy, Vân Yên và Từ Giản muốn có thêm chỗ dựa, cũng là lẽ thường tình.
Hoàng Thái hậu lại thở dài mấy tiếng. Nghĩ đi nghĩ lại, cũng là do bà đã già. Nếu bà còn khỏe mạnh, sống thêm hai ba chục năm nữa, thì sao mà không bảo vệ nổi Vân Yên chứ? Bao nhiêu suy nghĩ lướt qua trong lòng, Hoàng Thái hậu cất tiếng gọi người, sai đến Ngự thư phòng mời Từ Giản. Trong lúc chờ đợi, bà lại thủ thỉ nói với Lâm Vân Yên biết bao lời tâm tình, đến khi ngoài điện truyền rằng Phụ Quốc công đã đến, bà mới lau khóe mắt đã hơi ướt.
Từ Giản bước vào, hành lễ cung kính. Lâm Vân Yên ngẩng đầu nhìn hắn, hai người chạm mắt một cái, đại khái cũng hiểu được tình hình rồi.
Hoàng Thái hậu bảo Từ Giản ngồi, nói: “Vân Yên bảo, con chắc chắn đã lên Ngự thư phòng xin ra trận rồi, đúng không?”.
“Vâng”. Từ Giản gật đầu: “Thần cũng đã thuyết phục được Thánh thượng”.
Hoàng Thái hậu cười bất đắc dĩ: “Phải rồi, con ngoài võ nghệ cao cường, tài ăn nói cũng không kém. Năm xưa trong tình cảnh ấy mà còn thuyết phục được mọi người cho con quay lại Dụ Môn mà. Thánh thượng đã đồng ý, ta cũng không muốn cứ mãi làm người cản trở. Ta chỉ muốn con ghi nhớ, năm đó con là kẻ cô độc, chưa lập gia thất, cũng không cần lo cho phụ mẫu. Giờ thì khác rồi, ba nữ nhân trong phủ Phụ Quốc công, đều là người thân của con”.
“Thần đã ghi nhớ”. Từ Giản đáp.
“Con đến Dụ Môn rồi, mọi chuyện ở kinh thành đã có ta, không cần con lo”. Hoàng Thái hậu căn dặn lại lần nữa: "Con chỉ cần làm tốt việc của mình, sớm đẩy lùi địch, sớm sống sót trở về là điều quan trọng nhất”.
Từ Giản đứng dậy, hành lễ với bà. Hoàng Thái hậu mỉm cười, nét mặt có chút mỏi mệt. Bà nói với Từ Giản: “Đã quyết ra trận, việc cần chuẩn bị còn rất nhiều, con cứ đi lo liệu đi, để Vân Yên tiễn con ra ngoài”.
Từ Giản cáo lui, Lâm Vân Yên và hắn bước ra ngoài. Vừa ra khỏi điện, Từ Giản quay lại nắm lấy tay nàng, cũng không buông ra, cứ thế nắm suốt dọc đường. Những chuyện cần nói về việc xuất chinh, hai người đã bàn bạc riêng mấy ngày nay rồi, giờ đây cũng không cần nói thêm gì, cứ lặng lẽ cùng nhau bước qua sân, đi qua bức bình phong, ra đến ngoài Từ Ninh cung mới bịn rịn buông tay.
Lâm Vân Yên cong môi cười với hắn: “Trước khi chàng tới, nương nương lo sốt vó”.
“Nương nương thương nàng nhất”. Từ Giản nói rồi lại tiếp: “Nàng còn nhớ không? Ta từng nói với nàng, đây là ván cờ mở đầu tốt đẹp nhất đời ta”.
Chính hắn có thể đập nát ván cờ này, nhưng hắn không muốn để Lâm Vân Yên cũng vỡ vụn theo. Vậy nên, hắn sẽ càng thận trọng.
--------------------------------------------------













