Loan Xuân – Chương 117
Loan Xuân
Hắn ngồi một mình trong ngự thư phòng, nâng ly rượu lên và nhìn Quyền Quyền, khẽ hỏi:
“Về sau ngươi hãy ở bên ta, được không?”
Hắn đành buông tay.
Xa quê cuối cùng vẫn là khổ, trở về nơi mình sinh ra là niềm tin ăn sâu vào xương tủy của người Đại Tấn.
Những người chị em tốt của Lý Phụng Ninh vẫn còn ở Kinh thành. Nàng có người bảo vệ, có Chương Bội Bội đứng ra che chở, có Dương Ngọc Tố bảo vệ nàng. Hai vị phu quân của họ cũng đều là những nam tử hán đáng tin cậy, có thể ra mặt giúp đỡ những người bạn thân của vợ mình.
Dạo gần đây, Dương Ngọc Tố còn gửi đến ít kim chỉ, nhờ Bành Ngọc giao lại nếu có tìm thấy Lý Phụng Ninh, để nàng có thể giữ ấm, tránh bị lạnh đôi tay.
Bùi Tuấn thấy mắt mình cay xè, nhưng hắn không muốn nghĩ thêm nữa.
Hắn sai Liễu Hải triệu kiến Bành Ngọc.
Bành Ngọc đến cung trong cơn mưa tuyết, thấy vị hoàng đế trẻ tuổi ngồi quay lưng về phía mình, trên người mặc một bộ áo bào rộng, mệt mỏi và uể oải, đang mân mê thứ gì đó trên tay. Chỉ từ dáng ngồi thôi cũng đã thấy rõ sự kiệt quệ và mất mát trong hắn.
“Nếu ngươi gặp lại nàng, bảo nàng hãy về Kinh thành. Trẫm… không gặp nàng nữa là được rồi.
Sống như vậy tốt hơn là chết ở ngoài kia, hắn không thể tưởng tượng khuôn mặt tươi tắn của nàng khi bị người khác dòm ngó, sẽ dẫn đến biết bao hiểm nguy. Hắn không muốn người con gái hắn yêu phải sống trong cảnh sợ hãi hằng ngày. Nàng là cánh chim, nên được bay lượn tự do.
Hắn chấp nhận điều đó.
Bành Ngọc nhìn bóng lưng cao lớn nhưng dường như đang dần sụp đổ ấy mà lòng xót xa chưa từng có. Gã nén nước mắt, cúi đầu vái lạy, rồi khẳng định:
“Thần sẽ lập tức rời khỏi Kinh thành. Nếu không tìm thấy Phụng cô nương, thần không còn mặt mũi quay về nữa.
Liễu Hải đứng bên nghe mà kinh ngạc, rùng mình. Bành Ngọc còn có cả gia đình để nuôi dưỡng, mà câu nói này thể hiện quyết tâm không quay đầu của gã.
Bùi Tuấn không đáp lại. Hắn chỉ bế Quyền Quyền lên và bồng nó đi vào nội điện.
Bùi Tuấn đã dừng mọi hoạt động truy đuổi Lý Phụng Ninh và Ô tiên sinh. Những bức tranh truy nã treo khắp bốn biên giới Đại Tấn đều bị dỡ xuống.
Hắn hiểu vì sao Ô tiên sinh mãi không lộ diện, hiểu nỗi lo của họ.
Hắn nhượng bộ.
Chỉ để nàng có thể sống yên ổn.
Không còn phải trôi dạt.
Đêm hai mươi chín tháng Chạp, Bùi Tuấn lại mang Quyền Quyền đến biệt viện. Suốt một năm qua, không biết bao đêm hắn lặng lẽ đến nơi này. Quyền Quyền đã quen thuộc chốn này, vừa đến đã tung tăng chạy nhảy khắp nơi.
Năm ngoái vào ngày này, Lý Phụng Ninh đã chia tay hắn tại đây, nói với hắn một câu tiếng Ba Tư mà hắn không hiểu.
Năm nay, vào ngày này, tuyết rơi ngập trời.
Bùi Tuấn đích thân đắp một người tuyết bên cạnh bệ giặt, người đàn ông vốn dĩ anh tuấn giờ đây lần đầu tiên cởi bỏ hết sự sắc sảo, mỉm cười nhẹ nhàng với người tuyết.
“Lý Phụng Ninh, trẫm đã đắp một người tuyết, chỉ tiếc nàng không thể thấy.
Quyền Quyền có vẻ như ghen tỵ khi thấy Bùi Tuấn cười với người tuyết, nó lao vào đẩy người tuyết khiến nó vỡ nát thành từng mảnh.
Bùi Tuấn tức cười, nhưng không nói gì, chỉ vẫy tay bảo Quyền Quyền đi theo mình rời đi.
Trong gió tuyết lớn dần, bóng dáng thanh thoát ấy như bước qua tuyết mà đến, rồi lại theo gió mà đi. Quyền Quyền quấn quýt nơi cánh tay hắn, không khỏi ngoảnh lại nhìn.
Cánh cửa từ từ đóng lại, ngăn cách Quyền Quyền với tầm nhìn của mình, cũng như khép lại một giai đoạn thanh xuân đẹp nhất của họ.
Từ đó về sau, Bùi Tuấn không quay lại nơi ấy nữa.
Hắn chìm đắm trong việc triều chính, dần dần trở lại vẻ ngoài điềm đạm, khuôn mặt tươi cười, phong độ như trước. Ban ngày, hắn là vị hoàng đế hoàn mỹ nhất trong mắt bách quan, nhưng khi đêm khuya yên tĩnh, nét cười biến mất, và hắn chỉ một mình ngẩn ngơ nhìn màn đêm đen kịt.
Có lẽ sự “buông tay này đã đem lại hiệu quả nào đó. Có lẽ khi không tìm kiếm quá nhiều, niềm vui bất ngờ lại tự đến.
Vào một buổi chiều xuân, Bùi Tuấn đang thảo luận với Thượng thư Lễ bộ Viên Sĩ Hoành về việc xây cất lăng tẩm. Bộ Công đã tìm một mảnh đất phong thủy tốt trên núi Bắc Mang để xây lăng cho Tiên Đế, nhưng Bùi Tuấn lại từ chối, không muốn quấy rầy linh hồn cha mẹ, và chỉ yêu cầu nâng cấp quy mô của khu lăng mộ cũ thành lăng đế vương.
Đúng lúc đó, Hoàng Cẩm hốt hoảng chạy vào, đôi mắt rơm rớm vui mừng đến mức không nói được thành lời.
Các quan chức Lễ bộ và Bộ Công đều bất ngờ trước vẻ kích động của Đề đốc Đông Xưởng, vẻ mặt ai nấy đều bừng sáng, suy đoán rằng có thể hoàng đế vô tình khiến một cung nữ có thai?
Bùi Tuấn là người như thế nào chứ, từ thần sắc của Hoàng Cẩm hắn đã đoán được phần nào. Gương mặt hắn vẫn bình tĩnh, dáng ngồi không đổi, chỉ khẽ “ồ một tiếng, gật đầu mà không hỏi thêm.
Hắn cũng không tiếp tục bàn về triều chính, tâm trí đã lặng như đáy hồ.
Liễu Hải thấy vậy lập tức vẫy tay ra hiệu cho các triều thần lui ra.
Cuối cùng trong thư phòng chỉ còn lại Bùi Tuấn, Liễu Hải và Hoàng Cẩm.
Bùi Tuấn vẫn ngồi im như tượng, ánh mắt đặt ở góc bàn, hai tay đặt trên ngự án, như muốn siết chặt nhưng lại không dám.
Nhìn thấy dáng vẻ của hắn, Hoàng Cẩm xót xa vô cùng.
Hắn đã chờ quá lâu, niềm tin từng bị bào mòn đến cạn kiệt, giờ lại có chút do dự.
Hoàng Cẩm nước mắt lưng tròng, quỳ xuống trước mặt Bùi Tuấn và từng chữ từng câu nói:
“Một tháng trước, Bành Ngọc nhận được mật báo từ một thám tử của Cẩm Y Vệ ở M//ô//n//g Ngột. Trong đó vô tình đề cập đến một người đàn ông trung niên ngoài ba mươi tuổi, dẫn theo một thiếu niên, mở một lớp học tại thành Ô, nhận học trò từ ba vùng Đại Tấn, M//ô//n//g Ngột và Ba Tư. Thám tử không chú ý lắm, chỉ báo cáo lại như thường lệ. Sau khi nhận được, Bành Ngọc lập tức đến thành Ô để xác nhận tin này.
“Bẩm bệ hạ, Ô Thành cách Thượng Kinh gần tám ngàn dặm, Bành Ngọc đã cưỡi ngựa ngày đêm, mất nửa tháng để đến nơi. Ngài ấy đã xác nhận đó chính là Phụng Ninh cô nương, và đã gửi tin về, trong thư viết rằng cô ấy bình an như trước.
Nghe đến bốn chữ cuối cùng, Bùi Tuấn nhắm mắt lại thật chặt, cảm xúc dâng trào trong lòng.
Hoàng Cẩm dè dặt hỏi, “Bệ hạ, ngài định thế nào?
Bùi Tuấn không nói gì. Việc buông tay này thực sự đã giúp họ lộ diện, sống yên ổn tại Ô Thành. Giờ đây hắn không biết xử lý việc này ra sao, chỉ có trực giác mách bảo hắn rằng không nên và cũng không dám quấy rầy nàng nữa.
“Để lại hai cao thủ bảo vệ, rồi bảo Bành Ngọc trở về kinh.
Ngước mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, cảnh sắc đẹp lạ lùng, làn gió xuân thổi qua khiến đất trời dần chuyển mình, chồi xanh rải khắp vườn ngự, sắc đỏ điểm tô khắp hoa mai ở núi Cảnh Sơn. Hơi ấm của mùa xuân từ Thượng Kinh kéo dài, nhẹ nhàng lan tỏa đến tận bãi cát phía Tây Bắc, cuối cùng lại vờn qua ngọn núi cao sừng sững, và dừng lại nơi thành trì phía Tây xa xôi nhất của Đại Tấn.
Vào lúc bình minh, tia sáng đầu tiên rọi xuống cổng thành, chiếc cổng cổ kẽo kẹt mở ra, dòng người nhộn nhịp từ trong thành đổ ra ngoài, chen chúc nhau tỏa đi khắp bốn phương.
Một đoàn tiêu sư và những người phu khuân vác đang dẫn đoàn xe hàng tiến về phía Tây, đi đến Đông Hòa Thành của nước Ô Đặc. Từ Ô Thành đến Đông Hòa chỉ cách nhau chưa đầy mười dặm, qua một dải đất cát thưa thớt là có thể thấy bóng dáng thành trì. Trước đây, giữa hai nước có đặt trạm gác, không có văn thư thông hành của triều đình thì không thể qua lại. Nhưng từ khi Bùi Tuấn mở lại Con đường Tơ lụa, dân chúng và thương nhân bình thường chỉ cần có giấy thông hành và nêu rõ lý do cần thiết là có thể đến Đông Hòa Thành buôn bán.
Ngày trước, Ô Thành vốn là thành biên giới, thường xuyên có chiến sự nên dân cư thưa thớt. Nhưng từ khi triều đình mở cửa thông thương, dân cư và thương gia khắp nơi xung quanh lần lượt đến định cư, thành ra dần có vẻ phồn hoa.
Trong dòng người nổi bật lên là đám trẻ con. Từng nhóm ba, bốn đứa len qua đám đông, cắm đầu chạy ra ngoài cổng thành. Đám trẻ này không phải đến Đông Hòa Thành mà rẽ hướng Bắc đến một thị trấn nhỏ cách đó khoảng một dặm. Thị trấn nhỏ này có khoảng trăm hộ dân, cư ngụ dọc theo chân núi hẹp dài.
Nhìn từ chân núi lên, đó là một dãy núi dựng đứng. Phía Bắc dãy núi còn có một hồ sâu hiếm thấy, nước hồ trong xanh như ngọc, hình dáng tựa như một vầng trăng khuyết, năm ngọn núi bao quanh tạo thành một hố lõm ở chính giữa. Trong lòng núi còn có mấy chục tòa thành nhỏ lớn của họ Khương, một dòng họ mà tổ tiên từng là phỉ mã, chuyên cướp bóc các thương gia đi qua. Sau một trận huyết tẩy đáng sợ, dòng họ này bắt đầu chuyển sang làm nghề trung gian.
Nơi này phía Bắc tiếp giáp với M//ô//n//g Ngột, phía Tây thông với các nước Tây Vực như Ô Đặc, phía Nam giáp ranh với Đại Tấn.
Khi ba nước không buôn bán qua lại, người họ Khương thường tranh thủ đi lại giữa các nước để mua bán tin tức, vận chuyển hàng hóa. Có lời đồn rằng, một năm kia, kỵ binh M//ô//n//g Ngột kéo xuống phía Nam, muốn lấy thông tin từ tay người họ Khương nhưng bị từ chối vì giá quá thấp. M//ô//n//g Ngột dẫn đại quân muốn đánh hạ pháo đài của người họ Khương, nhưng điều kỳ lạ xảy ra: khu hồ phía Bắc năm ngọn núi đột nhiên xuất hiện một cơn lốc xoáy, cuốn cả đám kỵ binh M//ô//n//g Ngột vào hồ, thương vong gần hết. Từ đó, rất ít ai dám mạo hiểm tấn công pháo đài này.
Khi chiến sự xảy ra, người họ Khương trốn lên đỉnh núi giữ mình. Lúc bình an, họ xuống núi làm ăn sinh sống.
Căn cứ của họ Khương nằm ngay ngoài thành Ô Thành không xa, M//ô//n//g Ngột và Ô Đặc đều muốn qua căn cứ này để mua lại hàng hóa của Đại Tấn, không cho Đại Tấn chiếm đoạt pháo đài của họ Khương.
Nhờ vị trí địa lý độc đáo, căn cứ của họ Khương tồn tại một cách kỳ diệu.
Sau khi du ngoạn qua các nước Tây Vực, Ô tiên sinh dẫn Phụng Ninh trở về căn cứ của dòng họ Khương. Chính lúc này, Phụng Ninh mới biết được thân phận thật của Ô tiên sinh. Ô tiên sinh không mang họ Ô, họ thật là Khương. Mẹ ông vốn là con gái của một thương gia Đại Tấn, bà sống ở Ô Thành từ nhỏ, học nhiều thứ tiếng và từng theo cha sang Tây Vực buôn bán. Một năm kia, họ gặp bão lớn và bị phỉ mã tấn công dọc đường. Bà Ô bị bắt về Khương gia bảo, cha và anh trai đều bỏ mạng. Tên đầu lĩnh phỉ mã ham sắc đẹp của bà, ép bà làm vợ, và Ô tiên sinh ra đời trong hoàn cảnh như vậy.
Mặc dù sinh con trai, bà Ô vẫn ôm mối hận, vừa dạy con học Hán ngữ, tiếng M//ô//n//g và tiếng Ba Tư, vừa dạy con đọc sách, viết chữ, vừa không ngần ngại kể cho con về nỗi đau của mình.
Năm mười tuổi, mẹ của Ô tiên sinh qua đời vì uất hận. Trong lòng Ô tiên sinh tràn đầy oán hận và thề sẽ báo thù cho mẹ. Từ đó, ban ngày ông học chữ, ban đêm rèn võ. Ông lớn lên âm thầm như vậy ở căn cứ của dòng họ Khương. Đến năm mười sáu tuổi, vào một đêm nọ, ông bị tiếng ồn ào đánh thức. Nhìn ra ngoài cửa sổ, ông mới biết cha mình lại bắt người về đây. Ô tiên sinh chán ghét cảnh đó.
Đêm ấy, ông lén bỏ thuốc độc vào giếng nước, khiến năm, sáu mươi tên phỉ mã chết tức khắc. Vụ việc cuối cùng truy ra ông là thủ phạm, các phỉ mã khác phẫn nộ, đòi cha ông phải trừng phạt đích đáng. Ô tiên sinh nhân lúc đối phương sơ hở, ra tay trước, tự tay giết cha mình để báo thù cho mẹ, sau đó còn giết hơn mười người nữa rồi mang thương tích nặng, chạy trốn khỏi căn cứ họ Khương trong đêm.
Đám phỉ mã còn lại đuổi theo ông đến dưới thành Đại Tấn, Ô tiên sinh liền nói mình có tin tức khẩn, tướng thủ thành Đại Tấn mở cửa. Ô tiên sinh bịa ra rằng đám phỉ mã ở pháo đài họ Khương đang âm mưu tấn công Đại Tấn, còn chỉ điểm đường lên núi và cách phá giải cơ quan cho quân Tấn. Cuối cùng, ông lợi dụng quân Tấn để tiêu diệt đám phỉ mã của dòng họ Khương.
Bản thân Ô tiên sinh cũng phải trốn tránh sự truy sát của người họ Khương, nên ông xuôi theo Hành lang Hà Tây, đi một mạch về phía Đông. Ông phiêu bạt khoảng nửa năm rồi đến kinh thành, tình cờ gặp được Lý Nguy, hai người tâm đầu ý hợp và từ đó, Ô tiên sinh sống ở kinh thành hơn mười năm trời.
--------------------------------------------------













