Ký sự chốn thanh lâu – Chương 4
Ký sự chốn thanh lâu
Bên ngoài, bóng hoàng hôn loang như mực tàu. Tần ma ma chống nạnh đứng giữa sân, giọng the thé vang xa: “Tiểu—Diệp—Tử! Hoa khôi Niệm Từ muốn đốt hương đêm! Còn lề mề nữa thì đừng trách bị đánh đòn!”
Tôi ôm lấy Tuyết Đoàn, vội vã chạy về phía tòa nhà chính. Gió đêm thoảng qua mang theo tiếng ca thanh ngọt của A Châu tỷ, quyện lẫn với tiếng mắng lanh lảnh của Thu Nguyệt tỷ dành cho tiểu nha đầu, như lơ lửng trong không trung, nghe còn dễ chịu hơn cả tiếng tỳ bà dì Tần gảy khúc “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ”. Thì ra, khi trèo lên cành cao, cảnh vật nhìn thấy cũng chẳng phải chỉ toàn gió lạnh.
Ngày tháng cứ thế trôi đi như nước sông Biện, ào ào chảy vụt qua. Chớp mắt, trong căn phòng luôn thoang thoảng mùi mai lạnh của Niệm Từ tỷ lại dần dần pha trộn thêm một hương vị lạ—mùi mực tàu, quyện với chút hương giấy.
Người mang mùi mực ấy đến là một thư sinh tên là Phí Diễm, nói rằng lên kinh ứng thí. Lần đầu tôi thấy hắn là vào một buổi chiều cuối xuân, nắng ấm, gió nhẹ, mọi thứ dịu dàng như mộng. Tôi bưng đống y phục vừa được xông hương mang đến phòng Niệm Từ tỷ, qua rèm châu lấp lánh, thoáng thấy bóng dáng một người mặc áo vải xanh đã bạc màu, đang đứng ngẩn người trước bức "Hàn Giang Độc Điếu Đồ" mà Niệm Từ tỷ quý nhất.
“Bức họa này của cô nương… tuyệt diệu!”—giọng nói ấy trong trẻo, dễ nghe, như tiếng chuông ngọc khẽ gõ, “Nét bút phóng khoáng mà lạnh lẽo, người câu cá kia như mang theo ngàn cân trên vai, vậy mà vẫn toát lên ý chí không cam chịu khuất phục. Diệu, thực sự diệu!”
Niệm Từ tỷ ngồi sau án thư, khuôn mặt xưa nay lạnh nhạt như tượng ngọc bỗng ửng lên một tầng đỏ nhàn nhạt, như có ai đó lặng lẽ quệt chút son hồng lên má. Tay chị cầm tràng chuỗi thạch anh xanh biển, nhưng quên cả lần chuỗi, chỉ khẽ gật đầu với vị thư sinh ấy.
~ Hướng Dương ~
Tôi nhẹ nhàng đặt đồ xuống, lặng lẽ lui ra. Trong lòng thầm lẩm bẩm: gã thư sinh này, nhìn thì trắng trẻo nho nhã, nhưng đôi mắt… lúc ngắm tranh sáng rực đến đáng sợ, giống hệt ánh mắt của chú Đức thúc khi nhìn thấy thỏi vàng—long lanh đến mức như muốn nuốt trọn cả thế giới.
Từ ngày hôm đó, Phí Diễm trở thành khách quen của Tụ Phương Các. Hắn khác hẳn những đại gia quăng tiền như nước, chỉ thích ghé đến vào buổi trưa vắng, tay kẹp một cuốn sách, hoặc mang vài bản thư pháp vừa mua được. Có lúc hắn đến để hỏi về kỹ pháp vẽ tranh, có khi lại say sưa bình thơ, phần nhiều là ngượng ngùng đỏ mặt, lắp bắp kể cho Niệm Từ tỷ nghe những chuyện kỳ lạ gặp trên đường hoặc phong thổ quê nhà.
“Phí mỗ tuy là thư sinh nghèo, không có gì ngoài tấm lòng, nhưng tấm lòng này đối với cô nương—tựa ánh trăng trên trời, trong sạch, sáng rõ!”
Câu này là tôi với Vân Nhi lén nằm bò ngoài cửa sổ phòng ấm của Niệm Từ tỷ nghe được. Vân Nhi bắt chước hắn, giả giọng õng ẹo kể lại cho tôi nghe, khiến hai đứa ôm bụng cười lăn trong bụi cỏ, suýt nghẹn thở.
“Niệm Từ cô nương, nàng tin ta đi! Chờ đến mùa thu, khi ta đỗ bảng vàng, nhất định sẽ rước nàng ra khỏi nơi này, đường đường chính chính, ba kiệu sáu sính, hỉ sự linh đình!”
Lời thề nghe hùng hồn như thể muốn đập vỡ cả gạch nền. Phòng trong im lặng một hồi, rồi giọng thở dài khe khẽ của Niệm Từ tỷ vang lên, nhẹ như cánh b//ư//ớ//m lướt qua đài hoa.
Tôi và Vân Nhi mê nhất là chui vào bụi hải đường rậm rạp ngoài phòng ấm của Niệm Từ tỷ để nghe lén. Những lời tình ấy, câu nào cũng ngọt đến phát ê răng, nhưng Vân Nhi lại mắt sáng như sao, tay đang đan thỏ cỏ cũng quên cả tiếp tục.
“Nghe đi, nghe đi! ‘Nhất nhật bất kiến như tam thu hề! ( Một ngày không gặp như cách ba thu )’—trời ơi, cái miệng công tử Phí như được phết mật ong!”
Vân Nhi háo hức thì thầm, còn bấm tay tôi một cái đau điếng.
Tôi bĩu môi, cố ý bắt chước giọng lãnh đạm của Niệm Từ tỷ: “Công tử, xin hãy tự trọng.” Rồi liền trầm giọng, giả giọng si tình của Phí Diễm: “Niệm Từ! Từng câu ta nói đều là từ tim gan! Trái tim này, trời đất chứng giám!”
Nói rồi tôi còn gõ n.g.ự.c thùm thụp làm trò. Vân Nhi bị tôi chọc cười đến nỗi “phụt” một tiếng bật cười, vội lấy tay bịt miệng.
Hai đứa còn đang bắt chước say sưa thì trên đầu “soạt” một tiếng—nửa chậu nước lạnh tưới thẳng xuống!
“Á á á!” Hai đứa tôi run cầm cập, ướt như chuột lột, ngẩng đầu lên thì thấy Thu Nguyệt tỷ đứng ở tầng hai, tay cầm gáo nước rỗng, khoanh tay cười lạnh: “Ơ kìa! Tôi cứ tưởng là mèo hoang động dục kêu đêm, té ra là mấy tiểu nha đầu học diễn tuồng à? Diễn hay ghê! Nào, diễn thêm vài câu cho chị em nghe với?”
[Truyện được đăng tải duy nhất tại hatdaukhaai.com - *
Tôi và Vân Nhi đội đầu ướt sũng, đỏ mặt như hai quả hồng chín, chẳng dám quay đầu, rút cổ chạy biến mất. Sau lưng vẫn còn văng vẳng tiếng cười chế nhạo giòn tan của Thu Nguyệt tỷ.
Niệm Từ tỷ thực sự như biến thành một người khác.
Ánh sương lạnh lùng nơi khóe mắt ngày thường đã tan đi. Chị ấy thường ngẩn ngơ nhìn ra ngoài cửa sổ, khoé môi khẽ cong lên mà không hay biết. Kẻ vẽ chân mày nay vẽ kỹ hơn, mùi hương xông trong phòng cũng đổi sang loại mai lạnh thanh nhã hơn—nói là vì “Phí lang” thích mùi đó.
Thậm chí chị ấy còn lục tung rương hòm, lôi hết những tấm vải quý bị chôn đáy rương ra, thì thầm rằng phải may cho Phí lang một bộ xuân y tử tế.
“Má… má nói xem… huynh ấy… huynh ấy thật có thể đỗ không?”
Có lần tôi mang trà vào, nghe thấy Niệm Từ tỷ hiếm hoi lắm mới có giọng điệu rụt rè như tiểu cô nương, hỏi Tần ma ma.
Tần ma ma vẫn chậm rãi gẩy bàn tính, không buồn ngẩng mắt lên: “Đỗ à? Hừ, cái đất kinh thành này, một trăm tên thư sinh đi thi, số lọt được vào bảng vàng chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi. Niệm Từ à, con lăn lộn trong nghề này bao năm, lẽ nào còn không rõ? Lời đàn ông… nghe một nửa, tin một phần là đủ. Còn cái tên Phí Diễm kia…”
Tần ma ma dừng một chút, ánh mắt lướt nhanh qua nét mặt Niệm Từ tỷ thoáng chốc trầm xuống, rồi bà thở dài, nuốt lại lời muốn nói.
“Thôi, con tự biết là được.”
Niệm Từ tỷ mím môi chặt chẽ, không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ cầm kim chỉ tiếp tục khâu áo. Nhưng từng mũi kim của chị hôm ấy lại xiêu vẹo đến lạ. Những lời của Tần ma ma như một hòn sỏi nhỏ rơi vào mặt hồ trong lòng chị, khơi lên một vòng gợn bất an. Thế nhưng, rồi lại bị ánh mắt sâu thẳm đầy tình ý của Phí Diễm dập yên.
Ngày tháng như chiếc xích đu, lắc lư qua thêm một mùa nữa. Cây thạch lựu ở góc sân Tụ Phương Các vừa chớm ra mấy quả non xanh, thì tin tức khiến đám nha đầu bọn tôi nổ tung cả lên—Vân Nhi sắp “khai diện”!
Tin là Tần ma ma đích thân công bố. Hôm đó bà vẫn ngồi búng bàn tính, không ngẩng đầu, chỉ nhàn nhạt nói:
“Liễu Vân Nhi, sửa soạn đi. Ngày kia có quý nhân đến.”
Giọng điệu đó, chẳng khác gì bảo hôm sau ăn cơm với dưa muối.
Vân Nhi đang giúp tôi phân chỉ thêu, tay run lẩy bẩy, sợi chỉ đỏ nhuộm thảo tiễn “tách” một tiếng rơi tõm vào chậu thuốc nhuộm lam, lập tức loang ra một vệt tím kỳ quái. Gương mặt em ấy trắng bệch, môi run lên không ngớt, giống như chiếc lá cuối thu đang run rẩy trong gió.
Tôi nắm chặt bàn tay lạnh như băng của em ấy, chẳng nghĩ gì đã hét lên với Tần ma ma:
“Má! Vân Nhi còn nhỏ xíu mà!”
Tần ma ma khẽ nhướng mắt, nhìn lướt qua dáng người nhỏ thó như giá đỗ của Vân Nhi, lần này hiếm hoi không mắng mỏ, chỉ thở dài một hơi:
“Mười bốn tuổi rồi, không nhỏ nữa. Nhà nghèo ngoài kia, tầm này con họ đã chạy đầy sân. Ở chỗ chúng ta… để con bé sạch sẽ lớn tới mười bốn, đã là ơn của ông trời rồi.”
--------------------------------------------------













