Giải Cơn Nghiện – Chương 31
Giải Cơn Nghiện
Hai người ra khỏi nhà, Tạ Lạc Sinh lái xe. Chưa đến miếu Thành Hoàng họ đã xuống xe. Trên đường người qua lại chen chúc, đầu người nhấp nhô, náo nhiệt vô cùng. Du xuân hội chùa là truyền thống lâu đời ở Thượng Hải. Trên phố đủ nam nữ già trẻ, không thiếu thanh niên ăn mặc thời thượng, cũng có người mặc trường bào mã quái. Tiếng người ồn ào nối nhau, hòa cùng mùi pháo và hương khói trong miếu, toát lên hơi thở đời thường nồng đậm.
Người Trung Quốc vốn kiên cường nhất. Vật lộn một năm giữa chiến hỏa, sang năm mới lại sinh hy vọng, ùn ùn kéo đến trước thần linh, mỗi người thổ lộ một điều cầu mong.
Tạ Lạc Sinh phiêu bạt bên ngoài mấy năm, lúc học hành không thấy cô độc. Nay vừa hòa vào đám đông, bên tai toàn giọng quê nhà, trong lòng liền dâng một cảm giác thân thuộc vững chãi.
Ven đường bày những quầy hàng nhỏ, có bán hương nến, có bán điểm tâm như bánh vuông, bánh niên cao, bánh đậu xanh, chỉ nhìn thôi đã thấy ngọt đầu lưỡi. Tạ Lạc Sinh đang nhìn thì ánh mắt bị người bán tò he đường thu hút. Nước đường thắng vàng óng, vào tay người bán như sống dậy, kéo thành hình em bé năm mới mũm mĩm đáng yêu, sống động như thật.
Tạ Lạc Sinh hỏi Dung Thuật: “Trước đây Dung tiên sinh có đi hội chùa không?”
Dung Thuật nói: “Không đi.”
Tạ Lạc Sinh nhìn anh. Dung Thuật không biểu cảm, nói: “Phần lớn đều bận xã giao.”
Tạ Lạc Sinh lập tức nhớ đến thân phận của Dung Thuật, lại nhớ mấy hôm nay danh thiếp chất đầy Dung công quán, trong lòng hiểu ra. Xem chừng ngay cả Tết Dung Thuật cũng chẳng được nhàn. Anh nói bình thản, không nghe ra vui giận. Dung Thuật làm gì cũng ung dung thành thạo, Tạ Lạc Sinh không kìm được nghĩ, năm mẹ Dung Thuật qua đời anh mới mười bảy mười tám tuổi, khi ấy anh đã một mình gánh cả nhà họ Dung như thế nào?
Cậu thất thần. Trên phố người đông như biển, bất chợt có người đi vội va vào vai Tạ Lạc Sinh. Cậu lảo đảo, cánh tay lập tức bị Dung Thuật nắm lấy. Tạ Lạc Sinh cụp mắt nhìn những ngón tay xương khớp rõ ràng của anh, khẽ gọi: “Dung tiên sinh.”
Dung Thuật: “Ừ?”
Giây sau lòng bàn tay ấm lên, Tạ Lạc Sinh đã nắm tay anh. Dung Thuật khựng lại, nhìn cậu. Tạ Lạc Sinh cười với anh, ngón tay luồn vào kẽ tay, mười ngón đan chặt.
Dung Thuật chỉ thấy cậu trẻ con, trong lòng lại không hiểu sao khẽ động.
Trong miếu Thành Hoàng có một cây cổ thụ treo đầy lụa đỏ. Gió thổi qua, dải lụa lay động, chuông trên cây cũng reo lanh canh trong trẻo, như muốn đưa mọi lời cầu xin của nhân gian lên tận trời. Không ít người góp vui treo hai dải lụa đỏ lên cây. Người biết chữ thì tự phủ lên chiếc bàn gỗ cũ, từng nét từng nét nghiêm túc viết với lòng thành kính; người không biết chữ thì trả mấy đồng tiền làm nhuận bút, nhờ người coi miếu hoặc tú tài bên cạnh viết giúp.
Tạ Lạc Sinh cũng cầm một dải lụa định buộc lên. Dung Thuật hỏi sao cậu không viết gì. Tạ Lạc Sinh nghĩ một lúc rồi cười: “Muốn cầu quá nhiều.”
“Cha mẹ anh trai ở xa Hồng Kông, tôi muốn cầu họ thuận lợi bình an. Nước nhà rung chuyển, dân chúng chịu khổ, tôi muốn cầu chiến tranh thắng lợi, trăm họ an vui.” Mày mắt Tạ Lạc Sinh bình hòa, giọng lại giống một đứa trẻ tham lam, vì muốn quá nhiều nên thứ nào cũng chẳng nỡ bỏ. Cậu nhìn Dung Thuật, mỉm cười: “Còn muốn cầu cho Dung tiên sinh cả đời vui vẻ như ý.”
“Nhiều quá.” Tạ Lạc Sinh nắm dải lụa đỏ. Cành cổ thụ vươn dài, có một nhánh thấp. Cậu giơ tay buộc thẳng lên đó, nhìn lụa đỏ đung đưa rồi cười: “Dung tiên sinh không treo một dải sao?”
Dung Thuật nói: “Tôi chẳng có gì để cầu.”
Bản tính anh lạnh nhạt, mong cầu ít ỏi, mà giờ những thứ muốn có đều đã nằm trong tay, quả thật không còn gì để cầu.
Tạ Lạc Sinh bật cười. Cậu ngẩng đầu nhìn đầy cây lụa đỏ, giọng người thanh niên nhẹ nhàng ôn hòa: “Người ta vẫn nói vô dục tắc cương, nhưng đôi lúc tôi lại thấy sống trên đời phải có điều cầu mong mới càng mạnh mẽ. Sinh tử, lý tưởng, đủ mọi thứ như vậy, có điều để cầu mới sinh ra sức mạnh vô tận, cuộc sống mới càng đáng quý.”
Dung Thuật nghiêng đầu nhìn Tạ Lạc Sinh. Sau tuyết trời vừa quang, nắng rơi lên gương mặt người thanh niên mới ngoài hai mươi, giữa mày mắt là vẻ sạch sẽ chưa từng bị thế sự mài giũa, vẫn thấp thoáng chút ngây thơ. Tạ Lạc Sinh dường như nhận ra ánh mắt anh, quay đầu đối diện Dung Thuật, không hiểu sao bỗng hơi ngượng. Cậu đưa tay cọ chóp mũi để che giấu, mơ hồ nói: “Dung tiên sinh, chúng ta đi chỗ khác xem đi.”
Dung Thuật đáp: “Được.”
Gần giữa trưa, hai người ra khỏi Dự Viên. Chưa đi được mấy bước đã gặp một người đi tới.
Người kia chừng hai mươi bảy hai mươi tám tuổi, gương mặt tuấn tú, sống mũi đeo kính gọng bạc, âu phục chỉnh tề, rất có vẻ nho nhã. Vừa thấy Dung Thuật, hắn đã cười, quen thuộc chào: “Dục Thanh, sao cậu lại ở đây?”
Dung Thuật thấy đối phương cũng dừng bước: “Đi dạo tùy tiện thôi.” Anh nói với Tạ Lạc Sinh: “Tiết Minh Nhữ.”
Tạ Lạc Sinh hiểu ra, khách sáo gọi: “Tiết tiên sinh.”
“Đằng xa đã nhìn thấy cậu, còn tưởng tôi nhìn nhầm.” Ánh mắt Tiết Minh Nhữ rơi lên người Tạ Lạc Sinh, cười hỏi: “Vị này là?”
Dung Thuật nói: “Đứa cháu họ xa, chưa từng xem hội chùa miếu Thành Hoàng nên đưa cậu ấy đến góp vui.”
Tiết Minh Nhữ nhấm nháp bốn chữ “đứa cháu họ xa”, lập tức hiểu người thanh niên trước mặt là ai. Hắn đánh giá Tạ Lạc Sinh, lại thấy hai người đứng gần nhau, sao có thể không hiểu, bèn đùa: “Cháu nhà họ Tạ mặt mũi lớn thật, vậy mà khiến chú Dung của cậu chui khỏi động Bàn Tơ, xuống nhân gian ngắm khói lửa một chuyến. Những năm trước tôi mời bao lần, cậu ấy đều chẳng thèm để ý.”
Hai má Tạ Lạc Sinh hơi đỏ, khẽ ho một tiếng, lại chẳng biết đáp gì.
Dung Thuật thản nhiên nói: “Sao chỉ có mình cậu ở đây?”
“À, Thư Uyển đi mệt, đang ngồi ở trà lâu phía trước.” Tiết Minh Nhữ nói, “Cô ấy bảo muốn ăn bánh điều đầu, tôi ra mua một ít.”
“Qua ngồi cùng một lát?”
Dung Thuật nói: “Để hôm khác đi, tôi làm chủ, cậu đưa Thư Uyển đến.”
Tiết Minh Nhữ cười: “Được. Thư Uyển cứ nhắc mãi muốn gọi cậu đến đánh vài vòng. Cô ấy ấy à, Tết đánh mạt chược với người nhà vẫn chưa đã, còn chê tôi đánh dở, không thể so với cậu.”
Dung Thuật nói: “Cậu đánh bài đúng là dở.”
Tiết Minh Nhữ chậc một tiếng: “Đi đây, hôm khác gặp.”
Trên mặt Dung Thuật lộ mấy phần ý cười: “Hôm khác gặp.”
Tiết Minh Nhữ đi rồi, hai người chậm rãi đi ra ngoài. Tạ Lạc Sinh hỏi: “Dục Thanh?”
Dung Thuật: “Ừ?”
Tạ Lạc Sinh cười: “Đó là tên tự của Dung tiên sinh sao?”
Dung Thuật nói: “Năm xưa học hí, sư phụ đặt cho tôi.”
Tạ Lạc Sinh thầm niệm hai chữ “Dục Thanh”. Dục Thanh, Dục Thanh, Dung Dục Thanh. Cậu nhìn Dung Thuật, trong lòng bỗng sinh vài phần tiếc nuối. Lòng người vốn tham lam, giờ cậu đã ở bên Dung Thuật vẫn chưa thấy đủ. Thế giới của Dung Thuật quá lớn, lớn đến mức cậu cảm thấy những gì mình thấy chỉ là phần nổi của tảng băng. Tạ Lạc Sinh thậm chí nghĩ, cậu muốn quá khứ, hiện tại và tương lai của Dung Thuật, muốn cả những gì cậu biết lẫn chưa biết đều lưu lại dấu vết của mình.
Ý nghĩ ấy đến đột ngột mà mãnh liệt, xoay vần cuộn trào trong lòng Tạ Lạc Sinh.
Tạ Lạc Sinh không nhịn được nắm lấy ngón tay Dung Thuật. Dung Thuật như cảm nhận được, liếc cậu một cái. Hai người đã lên xe, Tạ Lạc Sinh nhìn anh, khẽ gọi: “Dung tiên sinh.”
Đuôi mày Dung Thuật khẽ nhướng.
Tạ Lạc Sinh lại gọi: “Chú Dung.”
Cậu cứ gọi Dung Thuật như vậy, Dung Thuật lại nghe ra vài phần tủi thân trong giọng cậu, giống một con vật nhỏ dính người, cứ áp vào cọ cọ, muốn làm nũng trên người anh. Dung Thuật bật cười, đưa tay sờ má cậu: “Ừ?”
Tạ Lạc Sinh ghé tới cắn lấy môi anh, tự mình nếm được vị son vừa tô lên: “Dục Thanh.”
“Dung Dục Thanh.”
Tạ Lạc Sinh nghĩ, Dung Thuật là của cậu.











