NỮ TỬ VÔ TÀI MỚI LÀ ĐỨC – Chương 8
NỮ TỬ VÔ TÀI MỚI LÀ ĐỨC
Hắn kéo thân thể tàn tật, đè nàng dưới thân, dùng miệng c.ắ.n cổ một tên địch.
Tên ấy chưa c.h.ế.t hẳn, tay mò lấy dao, Lâm Nhuyễn Nhuyễn đoạt trước, đ.â.m thẳng vào ngực.
Dao rút không ra, nàng lấy trâm cài tóc, đ.â.m tới khi tay m.á.u thịt be bét.
Tạ Lãng chống mũi thương, kéo thân thể đứng lên:
“Tới đây đi, lũ ch.ó hoang!”
Lương bị thiêu, phản quân rút nhanh.
Ta lảo đảo chạy về phía cha mẹ.
Cha ta tựa dưới chân thành, giáp đã nhuộm máu, mà vẫn còn cười:
“Uyển Uyển… phụ thân không làm con mất mặt, phải không…”
Ta lấy tay che vết thương bụng ông, m.á.u vẫn trào ra từ kẽ ngón tay.
Mẹ ta dựa vào vai ông, d.a.o vẫn nắm trong tay, nhưng không còn sức nâng nữa.
“Con gái…” – bà thều thào, chỉ áo trước n.g.ự.c – ta run rẩy lấy ra nửa miếng bánh bạch linh.
Tạ Lãng lê chân gãy bò đến, vết m.á.u loang dài trên đất.
Lâm Nhuyễn Nhuyễn theo sau, đôi tay đẫm m.á.u vẫn ôm hắn không buông.
“Bá phụ, bá mẫu…” – Tạ Lãng giọng khàn khàn – “Ta cõng hai người vào thành…”
Cha ta lắc đầu, chộp tay Phó Tự Chi:
“Thằng ranh… ngươi từng nói sẽ bảo vệ Uyển Uyển…”
Phó Tự Chi quỳ xuống, tên vẫn rỉ m.á.u nơi vai:
“Tiểu tế… vạn lần không dám phụ.”
Mẹ ta vuốt mặt ta lần cuối:
“Đứa ngốc… đừng khóc… cha mẹ đi trước… chuẩn bị phòng tân hôn cho con…”
Tay họ lạnh dần, nhưng vẫn nắm chặt lấy nhau.
Ta ôm lấy phụ mẫu, bỗng nhớ tới thuở nhỏ, phụ thân dạy ta cưỡi ngựa, mẫu thân đứng nơi cửa nhìn ta mỉm cười.
Khi ấy thật tốt… đến cả bị mắng cũng ngọt ngào.
Bánh đường tan trong nước mưa, từ nay sẽ không ai giấu kim quả tử cho ta nữa.
Thân thể Phó Tự Chi co giật, ta vội vàng cúi xuống xem.
“Nghe này…” – hắn nói – “Có lẽ ta…”
Máu ộc ra từng ngụm từ miệng hắn.
Ta điên cuồng lắc đầu, hắn lại bất ngờ nở nụ cười.
Nhiều năm về trước, tại hiệu sách Thân Dậu, khi hắn đưa ta bánh hoa hồng, cũng cười như vậy – bên khóe môi có một lúm đồng tiền nhỏ.
“Giang Uyển…” – hắn đưa tay chạm lên vết sẹo nơi mặt ta – “Nhất định… phải sống trăm năm…”
“Không được!” – ta gào lên trong tuyệt vọng, cầu khẩn trời xanh mở mắt, để họ sống.
“Vẫn còn hơi thở!” – Tạ Lãng lê chân gãy tới, ngón tay nhuốm m.á.u ấn lên cổ Phó Tự Chi – “Tên mọt sách này… mạng lớn thật!”
Vẫn là Tạ Lãng lên tiếng, ta mới phát hiện Phó Tự Chi chỉ là ngất đi.
Khi ấy ta mới thấy, vết thương do tên nơi n.g.ự.c hắn đã thâm đen – trúng độc.
Lâm Nhuyễn Nhuyễn vội tháo túi thơm bên hông, đổ ra vài viên thuốc:
“Nhanh! Đây là giải độc đan do ngự y ban, chỉ còn mấy viên…”
Ta nhét t.h.u.ố.c vào miệng hắn, nhưng hắn không thể nuốt.
Ta run rẩy ngậm chút nước mưa, cúi xuống truyền sang.
Trong miệng toàn mùi máu, hoà cùng vị mặn của nước mưa và nước mắt.
Cửa thành chậm rãi mở ra, ta thấy dân chúng toàn thành quỳ giữa cơn mưa.
Có người đưa vải khô, có người mang canh nóng, cũng có người lặng lẽ giúp chúng ta khiêng ván gỗ.
Không ai lên tiếng, chỉ còn tiếng mưa rơi và tiếng bước chân của chúng ta.
Khi đến trước cửa phủ họ Giang, ta thấy cây tử đằng năm xưa.
Hoa nở rộ, mưa rơi xuống cánh hoa, như thể cả trời đất cũng đang khóc.
Thương thế của Phó Tự Chi phải ba tháng mới lành, trong thời gian ấy còn nhất quyết muốn làm gậy cho Tạ Lãng, kết quả hai người suýt đ.á.n.h nhau.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại hatdaukhaai.com - *
Lâm Nhuyễn Nhuyễn mỗi ngày đều chạy tới phòng Tạ Lãng, ngoài miệng thì nói là chăm sóc thương binh, thực chất là trộm rượu t.h.u.ố.c của hắn.
Còn ta, cuối cùng đã học được cách mỉm cười trước mộ phần mà nói:
“Cha, mẹ, con sống rất tốt.”
Chỉ là, mỗi khi trời mưa, vết thương cũ nơi bả vai vẫn còn đau nhức.
Ba năm sau trận chiến Hắc Thủy Hà, ta chủ trì biên soạn bản 《Tân Thủy Kinh Chú》, được ban hành toàn quốc.
Đám lão ngoan cố ở Bộ Công quỳ rạp trước điện Thái Cực phản đối:
“Phụ nhân sao có thể định quốc sách?”
Ta lập tức mở bản đồ phòng lũ:
“Các vị có thể nhận ra ba mươi sáu dòng nước ngầm này chăng?”
Triều đình lặng như tờ – ấy là thứ ta khắc bằng móng tay trên song sắt trong ngục.
Ta mở chuyên khoa nữ tử sách luận tại Quốc Tử Giám.
Chu Thị lang – người năm xưa từng nói "nữ tử không tài là đức" – nay phải chấm bài cho nữ sinh.
Lâm Nhuyễn Nhuyễn bế con tới nghe giảng, tiểu tử kia tè ướt nửa cuốn Luận Ngữ.
Tạ Lãng tức muốn đánh, ta đưa hắn quyển sách cũ từng vẽ con rùa:
“Không sao, Khổng Tử vốn thiếu quả bóng bên hông.”
Ngày ta dâng thư từ quan, toàn triều chấn động.
“Giang khanh thật sự muốn đi?” – Vị hoàng đế trẻ tuổi vò nát tấu chương – “Trẫm cho khanh nhập các làm tể tướng.”
Ta cởi quan ấn đặt lên long án, tiện tay lấy luôn hai miếng bánh quế hoa:
“Bệ hạ, bản đồ trị thủy sớm đã không chỉ nằm trong đầu Phó Tự Chi, bố phòng biên cương cũng không còn chỉ dựa vào xương cốt Tạ Lãng. Còn về khả năng mắng người…”
Ta chỉ ra ngoài điện – nơi đám nữ sinh đông nghịt:
“Các nàng ấy đã giỏi hơn rồi.”
Lần cuối cùng đứng trên Kim Loan điện, ta nhìn quanh triều đình đầy gương mặt mới – những lão thần từng mắng ta là "gà mái gáy sáng", nay cỏ trên mộ họ đã mọc mấy lượt rồi.
“Bệ hạ, tân thuế vận chuyển đã thi hành ba năm, ngân khố thu nhập gấp đôi. Đây là tấu chương cuối cùng của thần – ngựa chiến do biên ải giao nộp năm nay, đủ để thành lập một đội kỵ binh nhẹ.”
Ngày ấy, Giảng quan Giang Uyển, Lang trung Lễ bộ Phó Tự Chi, Trung lang tướng Tạ Lãng đồng loạt từ quan, hoàng đế bất đắc dĩ chấp thuận.
Ta không ngờ họ cũng từ quan theo.
Nhưng cũng tốt. Bọn ta sớm đã không thể rời nhau. Nói là bằng hữu, chi bằng gọi là thân nhân.
Chúng ta định cư tại thủy hương Giang Nam.
Phó Tự Chi thầu một ao cá, Tạ Lãng dùng phương pháp huấn luyện binh lính để dạy vịt, còn ta mỗi ngày phiền nhất là Lâm Nhuyễn Nhuyễn lại giấu bút chu sa của ta, nàng cứ muốn thay ta chấm bài cho lũ nhỏ.
Không còn cách nào – ta quả thực có hơi nghiêm khắc.
Trung thu, chúng ta chèo thuyền trên hồ.
Từ xa đèn đuốc rực rỡ, tuyến kênh đào mới vận chuyển rượu nho từ biên ải về.
“Nhìn kìa.” – Tạ Lãng chỉ về phía xa, vô số đèn thả trôi theo dòng – là các ty thủy lợi khắp nơi đang tế thần sông.
Trong ánh đèn, ta như thấy cha mẹ đứng trên lầu Trích Tinh, nâng chén về phía chúng ta.
“Cha, mẹ, non sông vẫn vẹn toàn… Chỉ là… ta có chút nhớ hai người.”
《Thực lục triều Cảnh Hòa》 chép:
Từ khi họ Giang lui về ẩn cư, bốn bể yên bình.
Bắc ải mười năm không chiến sự.
Lợi lộc từ kênh vận dưỡng học đường khắp thiên hạ.
Khoa cử nữ tử trở thành thường lệ.
Dân gian truyền tụng “Tam bác họ Giang” – phản bác Nữ giới, phản bác thủ cựu, phản bác thiên mệnh.
Không ai còn gặp lại nữ tử ăn chơi nổi danh kinh thành năm ấy.
Nhưng trong rương trang điểm của bất kỳ tiểu cô nương nào, đều lén giấu một bức họa nàng.
Sau bữa cơm chiều, họ thường bắt chước dáng vẻ đại nhân Giang năm xưa, úp ngược quyển Nữ giới lên bàn, chống nạnh mà nói:
“Nữ tử vô tài mới là đức? — Nói láo!”
(Hết)
--------------------------------------------------













