Loan Xuân – Chương 127
Loan Xuân
Đổng Tịch lấy lại dũng khí, cùng Lục Chiếu ngẩng cao đầu bước lên tường thành.
Vòng qua các bậc thang, đi qua lối đi trên thành, trước mặt họ là một chiếc bàn dài, hai bên bày hai ghế.
Phía bắc, một người ngồi ngay ngắn sau bàn, vận một bộ long bào màu trắng ngà, khí chất thanh cao, dung mạo tuấn tú xuất thần, uy nghiêm tỏa ra khiến người ta không thể nghi ngờ đây chính là hoàng đế.
Bên trái hoàng đế là một lão tướng, tổng binh Túc Châu, bên phải là tri phủ Túc Châu đang quỳ gối. Bốn người hai bên đối diện nhau, rõ ràng Bùi Tuấn đã bày một “bữa tiệc Hồng Môn,“ quy tụ đủ các nhân vật trọng yếu của Túc Châu.
Đổng Tịch chưa từng diện kiến thiên nhan, nay thấy khí chất của Bùi Tuấn, trong lòng đã phục đến quá nửa.
“Lão thần xin khấu kiến thánh thượng.”
Bùi Tuấn đứng dậy, đích thân đỡ hắn, nét mặt ôn hòa, “Trẫm trên Kim Loan Điện nghe danh tướng quân đã lâu, hôm nay được gặp, thấy tướng quân quả là hùng dũng, danh bất hư truyền. Nào, mời ngồi, trẫm vất vả đến đây, chư vị ái khanh hãy cùng trẫm uống cho thỏa, đêm nay không say không về.”
Mấy triều thần ngồi xuống, lòng vừa kinh vừa sợ, không biết vị hoàng đế trẻ này có mưu đồ gì.
Bỏ công đến tận đây trong trang phục thường dân, chắc chắn không phải thật sự để uống rượu, phải xem hắn sẽ nói và làm gì.
Mấy vị tướng không phải kẻ nhát gan, sau vài câu chuyện trò xã giao, họ dần bộc lộ bản tính.
Thật bất ngờ, Bùi Tuấn không hề đề cập đến quân vụ hay Thân vương, mà lại hỏi về mùa màng ở Túc Châu, dân số, thuế má, lương thực cho binh lính, và xem có chuyện chậm trễ từ Bộ Binh không.
Những câu hỏi này đánh trúng vào nỗi bức xúc của các tướng lĩnh.
Hoàng đế thân chinh đến, đúng là cơ hội để họ giãi bày nỗi khổ.
“Bệ hạ không biết đấy thôi, Bộ Binh làm việc rườm rà chậm chạp, chỉ có vài vạn chiếc áo ấm mùa đông mà mãi không phát xuống. Không có áo mới thì thôi, vẫn có thể dùng tạm áo cũ, nhưng quân lương cũng chậm trễ, như vậy thì hỏng việc! Binh sĩ đói bụng thì làm sao chịu đựng được?”
Mọi người bắt đầu than thở, kể hết những khó khăn mình đã chịu đựng bao năm.
Bùi Tuấn sai người ghi lại từng lời họ nói.
“Chư vị yên tâm, trẫm đến tuần quan lần này là để giải quyết cấp bách cho các tướng lĩnh ở biên cương.”
Các tướng quân cảm động đến mức suýt bật khóc.
Quả là một vị hoàng đế thấu hiểu lòng dân.
Mỗi một chính lệnh từ điện Phụng Thiên đến các châu quận đều phải qua bao nhiêu tầng bóc lột, để có thể thực thi tới nơi tới chốn thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Binh lính ra trận là những người thực tế, không thích giao thiệp với đám văn quan trong triều chỉ biết nói lý suông.
Sau một hồi thổ lộ nỗi lòng, quân thần trở nên hòa hợp, Bùi Tuấn thậm chí còn kể chuyện thuở nhỏ cưỡi ngựa cùng phụ thân. Các tướng lĩnh cũng cởi mở hơn, tự hào khoe mình săn bắn tài giỏi thế nào, hẹn hôm sau sẽ cùng hoàng thượng đi săn cho thỏa chí.
Giữa lúc tiệc rượu đang sôi nổi, bỗng có một người khí thế lẫm liệt từ dưới thành bước lên, tay xách một chiếc đầu người ném xuống đất rồi quỳ một chân, nói:
“Hoàng thượng, Thân vương mưu phản, thần phụng mệnh tiêu diệt phản loạn, người đã bị xử tử, thỉnh hoàng thượng xem qua.”
Chiếc đầu người đầy máu lăn từ tay Bành Ngọc đến trước mặt mọi người, khiến các tướng lĩnh vừa mới cười nói vui vẻ liền biến sắc.
Trong lòng họ nặng trĩu như đá, không ai dám thở mạnh.
Không ít người trong triều đã gửi lời nhắn rằng tân hoàng đế là người tàn nhẫn, thủ đoạn không tầm thường. Trước đây họ không tận mắt chứng kiến, nên vẫn bán tín bán nghi. Nhưng vừa mới trò chuyện thân tình, họ càng nghĩ hoàng thượng là một vị quân vương đức độ. Thật không ngờ chỉ trong chớp mắt, đầu của Thân vương đã nằm ngay dưới chân họ.
Một cú tát thẳng vào mặt.
Nhìn đôi đao thêu xuân của Bành Ngọc giắt bên hông, họ cũng đoán ra là hành động của Cẩm Y Vệ.
Nhưng hoàng thượng ở trên cao vẫn nở nụ cười, thậm chí không liếc nhìn chiếc đầu bê bết máu, mà nhẹ nhàng nâng chén:
“Nào, chư vị đừng ngẩn ra, uống tiếp thôi, vừa rồi trẫm nói đến đâu rồi nhỉ?”
“A...ờ...”
Các tướng quân nhìn nhau, gương mặt vừa ngại ngùng vừa căng thẳng, không ai dám đáp lời, mãi đến khi tri phủ run rẩy lên tiếng:
“Ngài vừa nói đến việc tiên đế ban cho ngài một chiếc nghiên mực...”
Những điều Bùi Tuấn nói sau đó, không ai còn lòng dạ nào để nghe.
Thì ra đây thật sự là một bữa tiệc Hồng Môn. Một mặt, hoàng thượng đích thân triệu kiến các văn võ đại thần của Túc Châu, ổn định biên giới và quân đội, mặt khác, lại ngầm phái người đến Vĩnh Châu, dùng đao sắc chặt đứt đầu Thân vương.
Thủ đoạn như vậy, đã không còn chỉ là “sấm rền gió dữ.”
Đổng Tịch, người từng qua lại với Thân vương, bỗng toát mồ hôi lạnh.
“Bái phục!” Đổng Tịch đột nhiên trào nước mắt, xúc động quỳ xuống, “Thần Đổng Tịch lĩnh nhận ân huệ của quân vương, xin cúi đầu tạ ơn.”
Ba người còn lại cũng quỳ xuống, đồng loạt bái lạy.
Bùi Tuấn quét mắt nhìn mọi người, mỉm cười không nói.
Hắn vốn không coi Thân vương là đối thủ, người đáng dè chừng thật sự là các tướng lĩnh nắm giữ trọng binh này.
Thân vương không có quân đội trong tay, khó lòng khuấy động được gì.
Ngay từ đêm ám sát ở đảo Kỳ Long, Bùi Tuấn đã thả một con cờ hai mang về phủ Thân vương. Chính nhờ tên nội gián này mà hắn nắm được mọi động thái trong phủ Thân vương. Trong suốt năm qua, triều đình đã thu thập được nhiều bằng chứng về việc Thân vương cấu kết với địch. Bành Ngọc dẫn theo Cẩm Y Vệ trực tiếp đến Vĩnh Châu, bao vây phủ Thân vương và phối hợp cùng Tiểu Vân Tử, dễ dàng tóm gọn phủ Thân vương và xử lý gọn gàng.
Thân vương nổi tiếng ở Vĩnh Châu, vụ việc của hắn gây chấn động cả thành. Cẩm Y Vệ công khai tìm thấy trong phủ hai bộ long bào màu vàng cùng nhiều đồ vật vượt quy chế. Hình tượng nho nhã của Thân vương trong lòng dân chúng lập tức sụp đổ. Nhân cơ hội này, Bùi Tuấn quyết định thanh lọc quan trường và quân đội Vĩnh Châu.
Đổng Tịch cứ nghĩ mình sẽ chết, nào ngờ trước khi Bùi Tuấn rời đi còn vỗ nhẹ lên vai hắn, “Việc lão tướng quân hẹn cùng trẫm đi săn, trẫm đã ghi nhớ. Giờ trẫm phải về kinh, sau này sẽ cùng tướng quân ôn lại chuyện cũ.”
Đổng Tịch lau mồ hôi lạnh nơi cổ, cúi đầu thật sâu trước bóng lưng Bùi Tuấn.
“Thần cảm tạ ân điển của hoàng thượng.”
Bùi Tuấn hồi kinh, xử lý nốt những kẻ liên quan đến cuộc tạo phản của Thân vương.
Lúc này các vị đại thần trong nội các mới hiểu ra, hoàng đế gần đây không lộ mặt là vì đang trấn áp Thân vương, chứ không phải vì ham mê tìm thuốc trường sinh như lời đồn.
Một tháng sau, Bùi Tuấn lại triệu tập nội các, nói rằng:
“Trẫm sẽ tiếp tục 'tìm thuốc trường sinh'.”
Lần này các đại thần không tin nữa, nhìn nhau, thầm nghĩ, lần này không biết ai sẽ gặp họa đây?
Về phần Phụng Ninh, sau khi tạm biệt Bùi Tuấn, nàng đã đến Cư Diên Thành, đến điểm căn cứ của Khang Gia Bảo tại đây, cho người truyền bá tin tức về hội thương mại, thu hút nhiều thương nhân M//ô//n//g Ngột đến nghe giải đáp và hẹn tháng Chín sẽ cùng đến Ô Thành.
Trở lại Ô Thành vừa đúng dịp khai giảng trường học, nàng lại bận rộn không ngừng vào việc giảng dạy.
Khi hội thương mại được đưa lên lịch, mọi thứ cần sắp xếp, từ cách thức tổ chức đến kế hoạch cụ thể, đều là việc mà huyện lệnh Ô Thành chưa từng xử lý. Ông liền mời Ô tiên sinh đến bàn bạc, và Ô tiên sinh dẫn theo cả Phụng Ninh cùng đi.
Một số người cùng tập trung tại nha huyện để bàn chuyện tổ chức thương hội, và khi bàn đến quy trình thủ tục, đây lại chính là sở trường của Phụng Ninh.
Vốn đã từng làm việc trước mặt hoàng đế và là người duy nhất trong nhóm từng tham gia thương hội ở kinh đô, nàng lấy hết can đảm nhận trách nhiệm:
“Để ta lập quy trình.
Vậy là Ô tiên sinh phụ trách liên hệ sứ thần và thương nhân các nước, còn Phụng Ninh đảm nhận xây dựng quy chế, xác định từng quy trình và nhân sự, từ việc dựng sân khấu ở đâu, chia bao nhiêu người cho từng phần việc, đến các công việc nhỏ lẻ đều được nàng sắp xếp kỹ lưỡng, rõ ràng.
Huyện lệnh thấy nàng từng trải, làm việc quy củ, lại hiểu cả quy trình xét duyệt của Ty lễ giám, chẳng khác nào được vị Phật sống hiển linh giúp đỡ. Ông không nhịn được mà thốt lên:
“Thiếu công tử, làm sao ngài lại thông thạo quy trình hành chính của Đại Tấn chúng ta đến vậy?
Phụng Ninh mỉm cười bí ẩn, “Ta từng làm việc ở kinh đô, ngài tin không?”
“Tin chứ, không tin cũng phải tin! Nếu chưa từng làm ở kinh đô, sao có thể viết ra một quy trình chi tiết và chỉn chu thế này?”
Từng chi tiết đều được cân nhắc kỹ lưỡng, ngay cả những vị quan chức lâu năm ở Ô Thành cũng không tìm được lỗi nào.
Huyện lệnh như nhặt được báu vật, lập tức cho người chuẩn bị theo đúng lời nàng dặn dò. Thấy nàng tài giỏi, huyện lệnh cũng bớt phải lo nghĩ, chẳng khác nào làm quan bù nhìn.
Lần này, thương hội là lệnh do triều đình ban xuống, Ô Thành cần phải trình báo từng chi tiết về kế hoạch tổ chức. Tấu chương lần này cũng do chính Phụng Ninh soạn.
Ở Dưỡng Tâm điện, nàng từng thấy những tấu chương xuất sắc nhất, thậm chí còn hiểu rõ sở thích và yêu cầu của người duyệt tấu. Hắn thích chữ viết ngay ngắn, không thích văn bản bị xóa sửa, cũng không yêu cầu ngôn từ hoa mỹ nhưng phải ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề.
Tấu chương được gửi cấp tốc về kinh đô, một tháng sau Nội các hồi đáp, chỉ có một dấu ấn duy nhất, kèm theo một chữ “chuẩn to tướng.
Phụng Ninh lật tấu chương đến trang cuối.
Bên cạnh dòng chữ “Thỉnh bệ hạ phê chuẩn, có một chữ “chuẩn được viết tay.
Những văn thư khác đều được phê bằng chữ “duyệt, chỉ có tấu chương này là phê “chuẩn, nghĩa là gì đây? Hắn cố ý viết để nàng xem ư?
Hai chữ “chuẩn lớn nhỏ, nét chữ như đúc từ một khuôn.
Đôi mắt nàng bỗng thoáng chút ngấn lệ khi đưa lại tấu chương cho huyện lệnh.
Huyện lệnh cầm lấy tấu chương mà vui mừng khôn xiết.
Trời thương, trước đây một chút việc nhỏ cũng phải trình lên đi trình lên lại, nào là sai định dạng văn thư, nào là nội dung chưa đủ đơn giản hay chi tiết. Huyện này cách kinh đô xa xôi, bao lần công vụ bị trì hoãn vì văn thư. Vì thế, huyện lệnh cảm động rưng rưng, nắm chặt tay Phụng Ninh, chỉ về phía văn thư phòng của huyện nha mà khẩn thiết nói:
“Thiếu công tử, mỗi ngày ngài hãy rảnh thì đến huyện nha giám sát nửa buổi. Ngài không biết đâu, năm ngoái huyện này hạn hán, ta đã gửi đơn xin cứu trợ về triều, thế mà văn thư gửi đi bị trả lại vì không đạt tiêu chuẩn, thành ra vụ việc chậm trễ. Nếu từ nay tấu chương gửi lên triều được ngài kiểm tra qua, chúng ta sẽ tránh được biết bao nhiêu phiền toái.
Phụng Ninh đồng ý. Mỗi buổi sáng nàng dạy học ở trường, buổi chiều lại đến huyện nha. Đến nơi ai ai cũng cung kính với nàng, mọi văn thư không phải cơ mật đều nhờ nàng kiểm tra. Sau này, ngay cả tướng thủ thành cũng biết chuyện, bèn đến huyện nha mời nàng giúp đỡ:
“Xin mời công tử rảnh rỗi đến quân doanh, chỉ dạy các văn thư của chúng tôi cách soạn thảo công văn sao cho chuẩn.
Mấy vị hán tử thô lỗ ở vùng Tây Bắc, giỏi xông pha trận mạc, nhưng không quen với việc câu chữ. Các quan viên ở Bộ Binh thì lại khéo léo nói chuyện bằng văn thư, không dễ gì đối phó được họ.
Vậy là Phụng Ninh mở lớp nhỏ tại nha huyện, dạy bọn họ những kiến thức và quy tắc cơ bản về văn thư, nhờ đó mà nha huyện vốn yên tĩnh nay lại trở nên sôi nổi, tấp nập.
Mặc dù vất vả, nhưng nhìn ánh mắt biết ơn của mọi người, Phụng Ninh cảm thấy ấm lòng vô cùng. Ai ngờ những tháng ngày rèn luyện ở Dưỡng Tâm điện giờ lại có thể mang lại lợi ích cho bá tánh.
Vậy nên con người ta, chỉ cần chuyên tâm làm việc hết mình, nỗ lực rồi sẽ không bị uổng phí.
Từng đoàn thương nhân từ các quốc gia dần đến Ô Thành, làm cho nơi đây thêm phần náo nhiệt.
Một buổi chiều giữa tháng Chín, sau khi hoàn thành công việc ở nha huyện, Phụng Ninh rời thành. Mặt trời đỏ rực như chiếc đĩa tròn treo trên bầu trời, gió thu lành lạnh cuốn từng đợt lá rụng, bụi vàng tung bay khắp nơi.
Cuối chân trời, một ông lão run rẩy dìu vợ bị què chân chầm chậm bước về phía rừng dương.
Bà lão đi lại khó khăn, cứ đi một đoạn lại nghỉ một đoạn. Sợ trời tối sẽ không về kịp, ông cụ cúi xuống cõng bà lên. Bà cụ đối diện ánh chiều đỏ rực mỉm cười, lấy chiếc khăn nhăn nheo lau mồ hôi trên trán ông.
Phụng Ninh ngẩn người nhìn, cảm nhận một làn gió lạnh lướt qua mặt. Nàng chợt nhớ đến Bùi Tuấn.
Nàng thật sự nên cảm ơn hắn, cảm ơn hắn đã rèn giũa nàng, giúp nàng trở nên mạnh mẽ, không còn sợ gió mưa như ngày hôm nay.
Nàng cũng cảm thấy hối tiếc, tiếc rằng ngày đó không nên dùng những lời lẽ lạnh nhạt để đối đáp với hắn.
Hắn mãi mãi là ánh sáng rực rỡ nhất từng chiếu rọi vào cuộc đời nàng, và nàng không quen với việc làm tổn thương người ấy.
Khoảng cách tám nghìn dặm, cả một đời cũng không có nhiều cơ hội để gặp lại.
Bước đi giữa làn lá thu rơi, Phụng Ninh dẫn theo bé Ngốc trở về Khang Gia Bảo. Gió lạnh rít lên từng hồi, cảnh vật ngoài thành thưa thớt bóng người, khiến nàng chợt thấy cô đơn, như thể chỉ còn mình nàng trôi dạt nơi đất khách quê người.
Gió cát thổi qua, nàng đưa tay lên che mắt. Đúng lúc ấy, một cỗ xe ngựa chầm chậm dừng lại trước mặt. Rèm xe vén lên, một bóng hình thanh nhã bước xuống, ánh hoàng hôn phủ lên người hắn một tầng hào quang dịu dàng. Hắn đứng thẳng, tay ôm cuộn tròn chú mèo béo mập, tay kia xách theo một hộp thức ăn, trông hệt như một người chồng đến đón vợ về nhà.
Đôi mắt tinh anh của hắn đắm trong ánh chiều tà, phủ lên một tầng tình cảm dịu dàng và chân thành.
Phụng Ninh thấy khóe mắt bỗng chốc cay xè.
--------------------------------------------------













